Trong bài Đất nước, Tạ Hữu Yên viết Mẹ Việt Nam "ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ". Rất có thể con số 3 và số 2 ở đây là những con số có tính tượng trưng vì trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc mình, Mẹ Việt Nam đã nhiều hơn ba lần tiễn con đi và cũng nhiều lần khóc thầm lặng lẽ. Nhưng nếu đó là hình ảnh Mẹ Việt Nam của thế kỷ 20 thì lần thứ 3 Mẹ khóc chính là lúc những đứa con của Mẹ phải ra đi để bảo vệ những miền biên ải ở hai đầu đất nước. Nếu hình dung sự phát triển của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam như những đợt triều dâng thì đã có tới ba đợt triều cường trong thế kỷ 20. Nếu như đợt thứ nhất là của thế hệ của Điện Biên, của 9 năm, đợt thứ hai ứng với thế hệ của những "giải phóng quân xẻ dọc Trường Sơn" thì đợt thứ 3 chính là thế hệ của các nhạc sỹ, ca sỹ trưởng thành từ cuộc chiến đấu vì lý tưởng "độc lập, tự do" của cả dân tộc. Ngày nay, bạn trẻ yêu nhạc cách mạng nào cũng có thể dễ dàng liệt kê hàng chục, thậm chí hàng trăm ca khúc ra đời trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng nếu có điều kiện nghe lại hoặc được cha anh kể chuyện, các bạn cũng có thể kể ra một con số ấn tượng các ca khúc ra đời giữa những ngày nóng bỏng nhất của "cuộc chiến giữa những người anh em Đỏ". Phải khẳng định ngay từ đầu rằng các ca khúc của thời kỳ chiến tranh biên giới - ca khúc chống bành trướng là một bộ phận không thể tách rời, trong kho tàng âm nhạc Việt Nam. Nếu bỏ đi giai đoạn sáng tác này, dòng chảy của nền ca khúc nói riêng và âm nhạc Việt Nam nói chung không còn liền mạch và trở nên thiếu tự nhiên. Được sáng tác trong một thời gian không dài, khoảng 3-4 năm và tập trung cao độ trong hai năm 1979 và 1980 với con số lên tới vài trăm bài hát, nhưng kho tàng ca khúc thời kỳ này có thể sánh ngang với nền ca khúc cách mạng của ba thập kỷ liền kề trước đó ở mọi phương diện. Đặc biệt, đó còn là những bản tráng ca cũng rực lửa hờn căm, ngập tràn hào khí. Một cách vắn tắt nhất, đây là một tượng đài hùng vĩ của nền ca khúc Việt Nam. Các ca khúc của thời kỳ này đã được viết lên từ những thôi thúc của tinh thần dân tộc dâng cao tột độ, từ tình yêu đất nước cháy bỏng đã trở thành truyền thống của cả dân tộc, và đặc biệt là từ tinh thần chống quân xâm lăng phương Bắc- một tinh thần được hun đúc từ hàng nghìn năm qua và đã trở thành một thứ tình cảm thường trực, một thứ phản xạ của bản năng, một ý chí hiện hữu tự nhiên tựa như dòng máu chạy trong huyết quản của mỗi con dân đất Việt. Một yếu tố quan trọng nữa làm nên tầm vóc của các tác phẩm thanh nhạc thời kỳ này nằm ở chỗ, những năm cuối 70, đầu 80 là thời kỳ đỉnh cao trong kỹ thuật dàn dựng, phối khí, thu thanh của Đoàn ca nhạc và Ban biên tập âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam - một "pháo đài" của nền âm nhạc cách mạng và tuyên truyền được sinh ra, trưởng thành và rèn luyện trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc trước đó, cũng như từ sự hỗ trợ của các nền âm nhạc lớn trong "phe" Xã hội chủ nghĩa, trong đó có cả Trung Quốc (!), để rồi sau đó trở thành cái nôi sản sinh ra các tác phẩm còn mãi với thời gian và các tên tuổi nghệ sỹ đi cùng năm tháng. Nối tiếp truyền thống và mạch cảm xúc của ba thập kỷ trước đó, các ca khúc thời kỳ này tiếp tục là tấm gương phản ánh sinh động nhất của lịch sử. Mỗi bài hát là một chỉ dấu song hành với những diễn biến của lịch sử. Một cách không hề phóng đại, thay vì tìm và đọc lại các xã luận của Hoàng Tùng trên báo Nhân dân, thay vì tìm lại bản gốc của Hiến pháp 1980 hay các tuyên bố báo chí của Bộ Ngoại giao, thay vì đọc sách trắng về quan hệ Việt-Trung, người ta có thể tiếp cận lịch sử bằng cách nghe lại các ca khúc của thời kỳ này. Đó là sự tái hiện bằng âm nhạc các trận bút chiến nảy lửa trong dư luận báo chí và chính giới, như trong các tác phẩm của Nguyễn Đình Tấn và Nguyễn Mạnh Thường với giọng hát hào sảng, bừng bừng khí thế và đầy kịch tính của nghệ sỹ Quang Hưng : "Giặc xâm lăng nói đất này đất của Trung Hoa bởi chứa trong lòng đất xương cốt ông cha đã chất chồng. Quân xâm lăng bay biết không ? Muốn tìm xương cốt cha ông, sao chỉ ởHoàng Sa, đảo nhỏ quê ta, sóng dềnh, biển gào. Hãy đến Đông Đa, hay tới Chi Lăng, hay tới Bạch Đằng nơi bao hồn oan vất vưởng... Hãy đến đây, xương chất sẽ càng cao. Dù 50 vạn, hoặc nhiều hơn . Đụng đến Việt Nam thành đồng lũy thép, thế hiên ngang muôn thuởlà mộ chôn lũ quân thù... " (Việt Nam muôn thuở mồ chôn quân thù - Nguyễn Mạnh Thường) hay : "Quên rồi chăng ? Những ngày cách mạng, những giải phóng quân vì Đảng hy sinh. Quên rồi chăng ? Giai cấp đấu tranh, khinh con hổ giấy giải phóng Đài Loan. Không ! Chúng không quên, chúng đâu có quên mà là bội phản. Quân phản bạn, phản dân. Hôm xưa chống Mỹ viện Triều. Hôm nay thân Mỹ đả Việt. A ha, vua Trụ, vua Kiệt đang sống lại hát Quốc tế ca. Thôi đi, im ngay đi !...Những người cầm quyền Trung Hoa đừng cuồng say trung cổ mà hãy nhớ lấy Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa..." (Việt Nam không khuất phục - Nguyễn Đình Tấn) Các ca khúc ấy đã bám chặt dòng chảy của thời sự. Nhiều ca khúc đã xuất hiện gần như ngay lập tức khi chiến tranh bùng nổ. Tiếng hát của dàn đồng ca vang dội hùng tráng trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam nhiều lần trong ngày có thể ví như các bản tin "breaking news" của CNN : Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới. Gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới. Quân xâm lược bành trướng dã man đã giày xéo mảnh đất tiền phương. Lửa đã cháy và máu đã đổ trên khắp dải biên cương. Đất nước của ngàn chiến công vẫn sục sôi khí thế hào hùng. Những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa đang gọi tiếp thêm những bản hùng ca. Việt Nam, ôi nước Việt yêu thương. Lịch sử đã trao cho Người một sứ mạng thiêng liêng. Mang trên mình còn lắm vết thương, Người vẫn hiên ngang ra chiến trường. Vì một lẽ sống cao đẹp cho mọi người : Độc lập, Tự do ! (Phạm Tuyên) Bên cạnh những bản tin thời sự với những bài xã luận đanh thép được thể hiện qua giọng đọc truyền cảm đặc biệt của các phát thanh viên danh tiếng Việt Khoa, Tuyết Mai, Hoàng Yến, Đài Tiếng nói Việt Nam đồng thời phát đi những ca khúc mang âm hưởng của lời Hịch tướng sĩ thở xưa. Nh