Bố tôi đã mê tiếng hát của bác Huyền mà để lại mẹ tôi cùng bốn con thơ, theo bác Huyền về Hà Nội, thi tuyển và trở thành ca sĩ của Đoàn Ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) năm 1955. Từ đó, bác và bố tôi, hai chị em ruột đã thành đồng nghiệp ca sĩ, cùng hát trên Đài TNVN. MỘT. Khởi nguồn từ ông nội mê hát ả đào Ông nội tôi có hai dòng con với hai bà nội, cho phép cháu nội gọi theo thứ tự: bà Nội và bà Trẻ. Bố tôi và bác Huyền thuộc dòng lớn, gồm bảy người, bác Huyền thứ ba, bố tôi thứ tư, là con giai độc đinh trong dòng con thứ nhất của ông nội. Dòng thứ hai của bà Trẻ có ba con, cũng duy nhất một trai. Bố tôi Văn Hanh và chú tôi Hùng Chiến, đều được cô bác gái của cả hai dòng gọi là “giai hoi” (giai hiếm). NSƯT. Văn Hanh và ca sĩ Nguyễn Thị Hồng trong một tiết mục song ca. Ảnh: TL Ông nội tôi là trai làng Thượng Mỗ, Hoài Đức, Hà Đông, chết năm 1962, khi 62 tuổi. Trên 60 năm đời mình, ông chỉ mê hai thứ: uống rượu quê và nghe hát chèo cổ cửa đình từ bé. Đến tuổi xuân, ông mới thật mê đắm ca trù (hát ả đào). Chính ông tự luyện thành tay đàn đáy số một của vùng Hoài Đức, Hà Đông, đua theo bạn bè, lên Hà Nội chơi đàn đáy ở Khâm Thiên, mà phải lòng một ca nương đẹp người, đẹp nết, hát ca trù thậm hay, tóc dài chấm gót, giọng Hà Nội thánh thót oanh vàng. Ông mê chơi đàn đáy cho bà, theo bà về nhà riêng ở Thái Hà ấp, lập “phòng nhì”, có thêm một dòng ba con, thành mười người con cả thảy. Rồi ông đưa bố tôi và bác Huyền lên Hà Nội ở, cho bố tôi đi học đến bằng Thành chung (Certificat), cho học đàn, học hát, truyền cho hai con tình yêu ca trù, yêu tân nhạc. Rốt cuộc, bác tôi và bố tôi cùng phải lòng tân nhạc, mà thành những ca sĩ có giọng hát trời cho, tự đệm guitare cho mình hát, phong cách đầy tự do và ngẫu hứng… HAI. Bác Huyền tôi, từ chim sơn ca thủ đô đến chiến khu Việt Bắc Một nhạc sĩ nổi tiếng, Nguyễn Văn Thương thì phải, đến chơi nhà ông bà tôi ở ấp Thái Hà. Ông choáng người khi nghe từ phòng khách giọng hát bác Huyền, trong khiết ngọc tuyền, tươi sáng đồng quê, như giọng Trời, chưa hề nhuốm bụi thị thành. Ông liền trịnh trọng mời cô thiếu nữ chân quê xứ Hà Đông, đến hát khai mạc Tuần lễ Vàng tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Với giọng nữ cao trong vắt, du dương, bác được công chúng thủ đô yêu dấu gọi là “con chim sơn ca của thủ đô Hà Nội”. Dường như từ ngày đó, bắt đầu định mệnh hát của bác tôi. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, bác Huyền tôi nghe tiếng gọi kháng chiến, bỏ “đô thành nghi ngút cháy sau lưng”, theo Cụ Hồ lên chiến khu Việt Bắc, chính thức khởi nghiệp hát trên làn sóng điện Đài TNVN. Cả gia đình ông nội tôi tản cư theo bác Huyền, lên Thái Nguyên, mua một cái trại, Trại Cau, ở chung cả hai dòng con, luôn giữ liên lạc với bác Huyền ở thủ đô kháng chiến Việt Bắc. Bố tôi đi lính Vệ quốc đoàn, giải ngũ, về Trại Cau ở cùng gia đình, làm việc ở Chi sở kho thóc Thái Nguyên, gặp mẹ tôi tản cư theo gia đình từ làng Đình Bảng - Bắc Ninh lên, cưới nhau, sinh ra tôi và ba đứa em tại tỉnh Thái và đặt tên tôi là Thái, theo tên cái nơi mà ông bà đã thành vợ thành chồng… NSND Thương Huyền. Ảnh: TL Tuổi đôi mươi, Thương Huyền thành ca sĩ đầu tiên của Đài TNVN, hát từ phòng thu thanh của đài, đặt giữa rừng sâu Việt Bắc, mái lá, vách tranh, nhiều khi chỉ với người đệm đàn duy nhất, chơi đàn mandoline tay ngang. Đó là ông Doãn Phú, công nhân phòng thu, mê say tiếng hát dân dã, vời vợi đa tình, trong vắt du dương của Thương Huyền mà đã thành chồng bà (*). Từ làn sóng điện của Đài TNVN, tiếng hát Thương Huyền bay khắp chiến khu Việt Bắc, xuống trung du, về Hà Nội bị tạm chiếm, bay sang tận Paris, thủ đô nước Pháp - suốt chín năm kháng chiến trường kỳ chống Pháp. Tiếng hát của bà đã trở thành kỷ niệm âm nhạc của một thời kháng chiến không thể nào quên, của tất cả những ai từng nghe bà hát dân ca: Hoa thơm bướm lượn, Ngồi tựa mạn thuyền, Trèo lên núi Thiên Thai, Người ơi người ở đừng về, Ra ngõ mà trông … Và những ca khúc trữ tình của nền tân nhạc Việt Nam: Suối mơ, Con chim non. Con chim lạc đàn, Thiên thai, Sơn nữ ca ... Rồi những ca khúc tiêu biểu của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này, trong đó có những bài song ca với ca sĩ em trai Văn Hanh: Gặp nhau dưới ánh trăng, Tình trong lá thiếp, Sao cô em chưa về, Dòng sông Đăkrông … Từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội hòa bình năm 1954, tiếng hát của bà như được chắp cánh bay ra thế giới. Nhân Đại hội Liên hoan Thanh niên Sinh viên thế giới lần thứ sáu tại Moscow, thủ đô Liên bang Xô viết, có tổ chức cuộc thi hát dân ca thế giới với hàng trăm nước tham dự, ca sĩ Thương Huyền đã đoạt giải nhì. Bà hát rất hay bài dân ca Nam bộ Ru con , lần đầu đem về cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một giải thưởng quốc tế về âm nhạc. Trong những ngày nước nhà chưa thống nhất, “nửa mình còn trong lửa nước sôi”, bà đã đến tận bờ con sông giới tuyến Bến Hải, lên sân khấu dựng ngoài trời, hát vọng sang bờ bên kia sông, những bài ca tin tưởng, hy vọng, đợi chờ, son sắt tình non sông đất nước: Tình trong lá thiếp (song ca cùng em trai Văn Hanh), Câu hò bên bờ Hiền Lương, Bài ca hy vọng, Hà Nội - Huế - Sài Gòn … Từ làn sóng điện của Đài TNVN, tiếng hát của NSND Thương Huyền bay khắp nơi. Ảnh: TL Bà đã hát, như từng hát trong kháng chiến chống Pháp mong ngày độc lập, giờ đây mong ngày thống nhất, sum họp Bắc - Nam. Tiếng hát sáng đẹp, thiết tha, đẫm tình của bà đã lay động, quyến rũ lòng người, vượt qua cả biên giới Việt Nam, chinh phục công chúng quốc tế. Sau hơn 40 năm hát, kể từ 1946, chim sơn ca chừng đã mệt. Bác Huyền tôi biết mình sắp về cõi, đến lúc phải từ biệt cuộc hạnh ngộ giữa tiếng hát của bà với cách mạng và kháng chiến. Bà thanh thản nhắm mắt trong một ngày tháng 7.1989 tại Hà Nội, như người nông dân yên ngủ êm đềm trên liếp cỏ sau khi đã hết sức cấy cày! Bà mất, kết thúc cuộc đời người đàn bà chói sáng nhất họ nội tôi, một nghệ sĩ suốt đời hát cho đất nước, cho đồng bào mình. Theo lòng yêu dấu thiên lệch của tôi, Nghệ sĩ Nhân dân Thương Huyền là người hát dân ca hay nhất, không ai có thể hát hay bằng… BA. Bố tôi hát cùng chị ruột Thương Huyền trên Đài TNVN