Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, hình ảnh đẹp đẽ, rực rỡ của người phụ nữ Việt Nam là biểu tượng của niềm tin, tình yêu và sự thủy chung, là tượng đài vô song, vĩnh cửu trong lòng mỗi người dân đất Việt. Ở thế kỷ XX, phụ nữ Việt Nam có những đóng góp lớn lao cho hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Cùng với các loại hình nghệ thuật khác, âm nhạc cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc tôn vinh những giá trị, phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Dưới chế độ phong kiến, người phụ nữ thường được nhắc đến với đức tính: chung thủy, nhân hậu, kính mẹ, thương cha, thương chồng, yêu con, thì ở chế độ mới, trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, họ lại gánh trên vai một trọng trách nữa, đó là góp sức chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Có thể bắt gặp họ với những công việc lao động sản xuất nơi hậu phương thông qua các ca khúc: Ngày mùa (Văn Cao), Lên ngàn (Hoàng Việt), Đường cày đảm đang (An Chung), Đóng nhanh lúa tốt (Lê Lôi - Huyền Tâm), Những cô gái Quan họ (Phó Đức Phương), Người Châu Yên em bắn máy bay (Trọng Loan),... Nhiều chị em còn trực tiếp đóng góp sức mình trên tuyến lửa, việc làm đó được thể hiện trong: Cô gái Sài Gòn đi tải đạn (Lư Nhất Vũ), Chào em cô gái Lam Hồng (Ánh Dương), Cô gái mở đường (Xuân Giao), Đường Trường Sơn xe anh qua (Văn Dung), Những cánh chim Hồng Gấm (Nguyễn Đức Toàn),... Dù là người bình thường hay khi trở thành người anh hùng thì phẩm chất vốn có của người phụ nữ Việt Nam vẫn luôn bộc lộ trong cuộc sống gia đình với chức năng làm mẹ, làm vợ. Có thể bắt gặp hình ảnh ấy trong ca khúc Mẹ yêu con (Nguyễn Văn Tý), Lời ru trên nương (Trần Hoàn - Nguyễn Khoa Điềm), Áo mùa đông (Đỗ Nhuận), Khâu áo gửi người chiến sĩ (Nguyễn Đức Toàn),... Trong ca khúc viết về người phụ nữ, mỗi nhạc sĩ đều có những tìm tòi, sáng tạo riêng để xây dựng hình tượng âm nhạc sao cho phù hợp với nội dung cần phản ánh. Tuy mỗi ca khúc khai thác một khía cạnh, nhưng tất cả đều chung một mục đích là làm nổi bật lên phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang. Nhìn chung, có thể nhận thấy các nhạc sĩ đã xây dựng được hình tượng người phụ nữ ở hai mảng chủ yếu: trong chiến đấu, lao động sản xuất và người mẹ, người vợ, người yêu nơi hậu phương. Ca khúc viết về người phụ nữ trong chiến đấu và lao động được khắc họa một cách chân thực, xúc động. Trong số hàng vạn tên tuổi đã hy sinh cho đất nước, Võ Thị Sáu được xem như tấm gương điển hình cho tinh thần dũng cảm, sự hy sinh bất khuất, gan dạ phi thường của người phụ nữ Việt Nam. Với lòng kính trọng về tấm gương hy sinh cao đẹp đó, bằng cảm xúc chân thành và sự rung động sâu sắc, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã hoàn thiện ca khúc Biết ơn Võ Thị Sáu vào năm 1958. Ông đã chọn hình ảnh hoa lê ki ma để khắc họa chân dung người chiến sĩ cách mạng. Hình ảnh đó toát lên cái thần thái vừa gần gũi, thanh tao vừa ung dung, tự tin, hiên ngang bất khuất của người nữ anh hùng. Người phụ nữ trong chiến đấu được khắc họa vào ca khúc không phải lúc nào cũng là người thật, việc thật, bởi trong chiến tranh có nhiều tấm gương anh hùng đã xả thân vì đất nước mà chúng ta không được biết mặt, biết tên. Họ là những Người mẹ miền Nam, tay không thắng giặc (Thuận Yến). Người mẹ ấy chỉ mong một cuộc sống yên lành, bình dị: “gieo lúa trồng khoai, ngày qua ngày gặt hái nuôi con, nhưng chẳng được ăn, thù giặc Mỹ, bát cơm ăn còn thắm máu đào, cả miền Nam lòng đau dạ xót”. Trước sự áp bức, kìm kẹp, mẹ đã “không thể ngồi yên, nhìn quân thù tàn phá quê hương, mẹ đã đứng lên giành lấy chính quyền, vũ khí mang theo là khối căm hờn, với tình yêu quê hương đất nước”. Và với ý chí kiên cường, lòng căm thù giặc sâu sắc, tinh thần quật khởi, người mẹ miền Nam chỉ có tay không đã chiến thắng kẻ thù. Gương người phụ nữ anh dũng chiến đấu còn bắt gặp ở ca khúc Người con gái sông La (Doãn Nho - Phương Thúy). Người nữ dân quân đang ngày đêm bám sát trận địa để “đếm hàng loạt bom rơi, mặc cho bom nổ bên tai, em vẫn đứng giữa trời”, để khơi thông cho những tuyến đường giao thông huyết mạch. Có thể nói đây là một ca khúc thành công trong việc khắc họa về hình tượng của người phụ nữ Việt Nam. Những âm hưởng của chất liệu ví dặm Nghệ Tĩnh, đường nét giai điệu mượt mà đã làm nổi bật lên vẻ đẹp tâm hồn và hình dáng của “người con gái sông La, đôi mắt trong tựa ngọc, đôi giọt nước sông La, trong như trời quê ta”, nhưng rất đỗi gan dạ, kiên cường. Người con gái đó chính là biểu tượng sức sống mãnh liệt, tinh thần bất khuất, lòng quả cảm cho sự trường tồn vĩnh cửu và tương lai rạng ngời của đất nước. Trong ca khúc Cô gái Sài Gòn đi tải đạn , nhạc sĩ Lư Nhất Vũ đã khắc họa chân dung những cô gái thanh niên xung phong vừa vui tươi hồn nhiên, vừa gần gũi, bình dị. Mở đầu bài hát là nét giai điệu sinh động, rộn ràng tươi vui mang âm hưởng của điệu thức 5 âm trong âm nhạc dân gian, miêu tả được khung cảnh thiên nhiên thơ mộng: “chim kêu ven rừng suối gọi, hoa mai vàng chen lá ngụy trang". Cùng với đó là hình ảnh của người con gái Sài Gòn đi tải đạn, một công việc hết sức nặng nề, vất vả khó nhọc đối với những cô gái mảnh mai: “ta lên đường nặng trĩu hai vai” và mặc dù “sương đêm ướt đầm nón vải”, chị em vẫn “lên đường theo giải phóng quân”. Thiên nhiên và con người hòa quyện để từ đó toát lên sự hồn nhiên, yêu đời và tinh thần lạc quan không sợ gian khổ, khó khăn. Trên suốt chặng đường vận chuyển, dù “đường dài sức nặng càng tăng”, nhưng chị em vẫn hồn nhiên, yêu đời, vẫn coi quả pháo như đứa trẻ, để suốt đêm dài bế trên vai. Dù bom rơi, dù bao bốt đồn, chị em vẫn có một niềm tin bất diệt vào "chiến thắng đang chờ ta”. Người nữ chiến sĩ giao liên được khắc họa khá đậm nét trong ca khúc Đường tôi đi dài theo đất nước (Vũ Trọng Hối). Lối tiến hành giai điệu bình ổn theo hình làn sóng đi lên và đi xuống, dựa trên điệu thức 5 âm: xon-xi-đô-rê-fa, ở nhịp độ vừa phải đã tạo nên tính chất âm nhạc sinh động, uyển chuyển. Nội dung lời ca phác họa toàn cảnh cuộc sống và chiến đấu của các cô gái giao liên với những nỗi khó khă