QĐND-Mùa Thu Hà Nội đã đi nhiều vào thơ ca. Có những mùa Thu rất riêng như: Thu ấu thơ kỷ niệm của những cô cậu “áo học trò xanh những hàng me”, Thu da diết chia ly của những đôi lứa với “hoa sữa vẫn ngọt ngào đầu phố đêm đêm”, hay Thu bâng khuâng nỗi nhớ bởi “cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ… phố xưa nhà cổ”. Nhưng có một mùa Thu lịch sử rất chung của những người con đất Kinh kỳ - Kẻ Chợ mà hình ảnh đã được gói ghém, lưu dấu, gìn giữ trong những tứ thơ thân thương mà bỏng cháy, hùng dũng mà lắng sâu trong “Cảm xúc tháng Mười” của Tạ Hữu Yên và được nhạc sĩ Nguyễn Thành phổ nhạc. Không thể nói trời không trong hơn Và mắt em xanh khác ngày thường Khi đoàn quân kéo về mùa Thu ấy Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường. Mẹ đứng hàng đầu rưng rưng nước mắt Xốn xang mẹ thầm gọi “Các con...” Anh chiến sĩ mến thương nhìn mẹ Nghe niềm vui ấm cả tâm hồn… Ngày 10-10-1954, mùa Thu ấy, ngày Thu ấy đẹp đẽ và linh thiêng! Sau một đêm khi gót chân của tên lính Pháp cuối cùng vội vã rút qua cầu Long Biên đi về phía Gia Lâm, mảnh đất Thăng Long văn hiến bừng lên khoảnh khắc của chiến thắng, của niềm vui, của sự trở về, của sự gặp lại khi hàng chục nghìn người dân cờ hoa vẫy chào cuộc hành quân lịch sử của Ủy ban Quân chính thành phố và Đại đoàn 308 từ các cửa ô tiến vào Hà Nội. Nhưng trong lớp lớp những rạng rỡ nụ cười ấy lại thiếu đi một bóng hình là… tác giả của “Cảm xúc tháng Mười”. Nhà thơ Tạ Hữu Yên ôn tồn: “Bởi vì tôi là người của đất cố đô Hoa Lư - Ninh Bình. Khi bà con Ninh Bình, Nam Định đang nô nức kéo nhau lên thăm người nhà ở Hà Nội hay các đồng chí ở Khu 3 được Bộ Quốc phòng điều lên làm công tác dân vận rồi về râm ran chuyện rằng ở Cầu Giấy, nơi họ đóng quân, nhân dân hào hứng gọi nhau đi mua vải đỏ may cờ suốt đêm để ngày mai ra đường, trẻ con còn hát hò đến sáng thì lúc ấy, tôi đang… đóng chốt trong doanh trại ở Hà Nam”. Nhưng không vì thế mà người “tái hiện” ngày thu lịch sử của Hà Nội lại không có những xúc cảm xao động về khoảnh khắc giải phóng bởi trước đó Tạ Hữu Yên đã tham gia tiếp quản thành phố Nam Định, thị xã Phủ Lý, thị trấn Phát Diệm (Kim Sơn). Ký ức của nhà thơ lung linh hình ảnh: “Phố Phúc Nhạc (Yên Khánh) rợp cờ đỏ. Bà con giáo dân lẫn đồng bào Phật giáo phấn khởi hòa chung một dòng người, nô nức màu áo nâu, áo xanh, thỉnh thoảng áo sơ mi trắng đi qua chợ Phúc Nhạc phong phú vải vóc. Đêm vui, người dân chăng đèn khắp con phố, tụ tập ở nhà thờ rồi hát kinh thánh một cách trang trọng”. Và cũng không vì thế mà một người đang sống ở thành Nam lại không có cảm giác khấp khởi, mường tượng về Hà Nội ngày giải phóng bởi từng có 4 năm tuổi thơ gắn bó với đất Kinh kỳ, Tạ Hữu Yên đã xem Hà Nội là quê hương thứ hai của mình. Hà Nội thời Pháp thuộc, trong đôi mắt của cậu học trò 16 tuổi có hình ảnh phố Hưng Ký, của Văn Miếu Quốc Tử Giám, của cuộc thi bơi ở Hồ Tây hiện về đầy mơ tưởng. Xa Hà Nội, nhớ về Hà Nội, vui trong niềm vui của Hà Nội lại càng làm Tạ Hữu Yên thêm yêu Hà Nội. Nhưng phải đến 20 năm sau ông mới thực sự được sống với “Cảm xúc tháng Mười” sau cuộc “gặp gỡ” với nhạc sĩ Nguyễn Thành. Hà Nội năm 1974, có tàu điện leng keng chạy, có phường hát xẩm, có chợ Đồng Xuân đông vui náo nhiệt nhưng “tuyệt nhiên không có một cái xe máy nào” … Nhà thơ họ Tạ lúc bấy giờ đã trở lại Hà Nội học rồi công tác tại Phòng Phát thanh binh vận. Nguyễn Thành – người từng lớn lên ở Hà Nội, cũng là người có mặt trong đoàn quân tiếp quản Thủ đô năm ấy và Tạ Hữu Yên là hai đồng nghiệp, hai trí tuệ neo đậu trong một tâm hồn yêu Hà Nội. Có lẽ chính “ duyên kỳ ngộ” vẫn thường được ví von: Nhà thơ, nhạc sĩ và tác phẩm như đã “đợi” nhau từ trước ấy mà những vần thơ cứ tuôn trào như thể “có ai đó đọc cho để ghi lại” . Nguyễn Thành “ kể” và Tạ Hữu Yên “ cảm” rằng: Mùa Thu năm ấy, Hà Nội xanh ngắt một màu. Xanh đẹp lắm, mắt xanh, trời xanh! Không thể nói trời không trong hơn Và mắt em xanh khác ngày thường Với nhà thơ Tạ Hữu Yên, nét trong trẻo của bầu trời Hà Nội ngày chiến thắng chỉ có thể ví trong đôi mắt của các cô học trò, các thiếu nữ Hà thành thanh lịch, đài các, rất riêng. Người có chồng, người có người yêu đã hẹn hò nhau… trong đoàn quân trở về ấy. Những tà áo dài thêu hoa trắng, đỏ, xanh ngập sắc các ngả đường Bờ Hồ, Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi, Cột Cờ, Bạch Mai… Ngày vui ấy có cả màu sắc, có cả âm thanh. Trống ếch trẻ con đánh vang đường phố. Trống to từ các làng ngoại thành Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm kéo vào. Trống cái được buộc hai bên thanh tre dài, người chít khăn đỏ, người khênh, người đánh thùng thùng, rộn rã… Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường. Và trong cái náo nhiệt, hào hùng ấy của khung cảnh, nhà thơ “nhìn” thấy những rung cảm sâu sắc, tinh tế của lòng người. Đó là hình ảnh bà mẹ Hàng Đào cầm tay bộ đội rưng rưng khóc: Mẹ đứng hàng đầu rưng rưng nước mắt Xốn xang mẹ thầm gọi “Các con...” Anh chiến sĩ mến thương nhìn mẹ là sự thổn thức của tình yêu lứa đôi: Anh, anh đã hẹn ngày mai trở lại Tác giả của “Cảm xúc tháng Mười” dừng lại ở những dòng thơ chất chứa yêu thương này: “Đầu năm 1951, 1953 tôi lên Thái Nguyên học về công tác địch vận trong vài tháng. Bữa ăn với các chiến sĩ chỉ có cá khô, cơm hôi… Nhưng thẳm sâu hơn cả trong họ vẫn là nỗi nhớ nhung đến nao lòng khi những cánh thư gửi về gia đình không có lời đáp. Tôi lại nhớ đến mẹ tôi tất tả áo tơi đội mưa từ chợ Côn Lăng lên đơn vị để đưa cho con một nồi lươn kho vùi trấu năm nào” . Bằng sự đồng cảm, Tạ Hữu Yên đã tạc khắc chân thực bức tranh ngày Thủ đô giải phóng lung linh lạ thường bởi tình người cách mạng. Tăng thêm một lớp hồi ức, Tạ Hữu Yên nhắc lại sự kiện một đêm đầu năm 1947, Trung đoàn Thủ đô vượt gầm cầu Long Biên qua sông Hồng để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ: Đêm, cái đêm rút qua gầm cầu ... Sóng sông Hồng vỗ bờ hát mãi Sự đối lập giữa hạnh phúc và gian lao, giữa hào hùng và bi thương, giữa hiện tại và quá khứ càng làm cho ta thấm thía hơn ngày vui đang có. Trong những dòng thơ miêu tả ngày Thủ đô được giải phóng, tác giả dành ra một câu thú vị, có khi hơi “ đánh đố” người đọc: Nh