Những năm 30 thuộc thế kỷ trước, do hệ quả của việc giao lưu văn hóa, ở nước ta xuất hiện nhiều hiện tượng văn hóa mới, mà âm nhạc không phải là trường hợp ngoại lệ. Trong khoảng trên dưới 10 năm, âm nhạc mới (chủ yếu là ca khúc) ra đời, ngay từ ngày đầu, do vị trí, vai trò của chủ thể sáng tạo đối với lịch sử, xã hội mà nó đã có những khuynh hướng - sau thành các dòng - khác nhau: trữ tình lãng mạn, hoài vọng lịch sử, và dòng cách mạng. Riêng với ca khúc cách, nó là sản phẩm của những người vô sản. Vì thế, từ khuynh hướng đến dòng, trở thành nền, quá trình ấy, ca khúc cách mạng là một thực thể luôn được cộng hưởng bằng đường hướng văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản Đông Dương (sau là Đảng Lao động Việt Nam). Thế kỷ XX, Đảng trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta đứng lên giành lại độc lập dân tộc trong tay hai đế quốc hùng mạnh. Đảng luôn quan niệm rằng, văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Bởi vậy, ca khúc cách mạng cũng được coi là mũi nhọn xung kích trên mặt trận ấy. Thế nên, khi nhìn lại bước đường phát triển từ 1930 đến 1975 thì thấy, ca khúc cách mạng luôn luôn có mặt kịp thời và phản ánh những gì sôi động, nóng bỏng nhất của xã hội, lịch sử. Nhìn từ phương diện này, không ít các nhà nghiên cứu âm nhạc cho rằng, ca khúc cách mạng là một pho sử bằng âm thanh phản ánh những diễn biến trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc ta ở thế kỷ XX. Nhận xét ấy hoàn toàn có cơ sở, bởi thực tế ca khúc cách mạng đã từng phản ánh như vậy. Dấu ấn những sự kiện lịch sử Cũng phải nói ngay rằng, mặc dù là sản phẩm của nhân dân, của cách mạng, nhưng rõ ràng, bước đi chập chững trong những năm tháng đầu tiên, ca khúc cách mạng chưa đủ sức ghi lại diễn biến lịch sử. Nguyên nhân chính thuộc về lịch sử và sự chi phối của nó tới các chủ thể sáng tạo. Lúc này, mặc dù Đảng cộng sản Đông Dương đã ra đời, nhưng thực sự chưa có ảnh hưởng rộng lớn đối với mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Điều này đã tác động không nhỏ đến tâm lý cũng như môi trường sáng tác và khả năng quảng bá tác phẩm của các tác giả. Mắt khác, trên phương diện chủ thể sáng tạo mà xem xét thì, phải nói ngay rằng, đội ngũ những người sáng tác lúc này chưa nhiều. Bên cạnh đó, về kiến thức âm nhạc, nhìn chung còn sơ sài. Các tác giả sáng tác và truyền bá tác phẩm bằng trí nhớ là chính, tính quần chúng được đề cao... Nhưng, chỉ sau cao trào 1936 - 1939, ca khúc cách mạng Việt Nam đã bắt nhịp và đồng hành cùng lịch sử dân tộc. Ngày 28 - 1 - 1941, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến, Nguyễn Ái Quốc về nước triệu tập Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (lần thứ 8) tại Cao Bằng. Hội nghị bàn nhiều vấn đề quan trọng của cách mạng, và chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh. Mặt trận này bao gồm các tổ chức quần chúng lấy tên là hội cứu quốc nhằm “liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn” (1). Và, ngày 19 tháng 5 năm 1941, mặt trận Việt Minh chính thức thành lập. Phản ánh sự kiện này đã có hàng loạt bài mang tính hô xướng, kêu gọi ra đời, như: Cờ Việt Minh (Vương Gia Khương), Tiếng gọi thanh niên (Lưu Hữu Phước), Lên đàng (Lưu Hữu Phước - Huỳnh Văn Tiểng)… Từ giữa năm 1944, không khí chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra hết sức náo nhiệt. Không khí đó, tinh thần đó, được ghi lại trong nhiều ca khúc: Phất cờ Nam tiến (Hoàng Văn Thái), Du kích ca (Đỗ Nhuận), Tiến quân ca (Văn Cao). Và, sục sôi hơn, chính là những ngày tiến tới tổng khởi nghĩa tháng Tám, nó đã được ghi lại qua: Bắc Sơn (Văn Cao), Cảm tử quân (Hoàng Quý), Đoàn Vệ quốc quân (Phan Huỳnh Điểu), Diệt Phát xít (Nguyễn Đình Thi). Điểm chót của cao trào là ca khúc Mười chín tháng tám (Xuân Oanh). Giành lại chính quyền chưa được bao lâu, nhân dân ta lại phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Sử ký bằng âm thanh bắt đầu ghi lại sự hung bạo của kẻ thù, bên cạnh đó là những trận đánh mang tính lịch sử của quân và dân ta. Khi toàn quốc kháng chiến có Nam bộ kháng chiến (Tạ Thanh Sơn), Tiếng chuông nhà thờ (Nguyễn Xuân Khoát); cuộc chiến đấu trong các đô thị có Người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi). Lịch sử chiến tranh của dân tộc ta diễn tiến đến đâu, đều được các nhạc sỹ ký sự bằng âm thanh tới đó. Chùm ca khúc về Sông Lô: Lô Giang (Lương Ngọc Trác), Chiến sỹ Sông Lô (Nguyễn Đình Phúc), Sông Lô (Văn Cao), là một bức tranh diễn tả lại Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947. Cuốn sử bằng âm thanh ở giai đoạn này càng dầy thêm mãi theo những trận đánh, những chiến dịch. Từ chiến dịch Biên giới Thu Đông (1950) đến cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân (1953 - 1954) và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, đó là bước tiến của lịch sử đồng thời cũng là bước tiến của ca khúc cách mạng Việt Nam. Bởi lúc này, trên cơ sở thực tế, bằng những kinh nghiệm sáng tác, qua các loại thể của ca khúc, nhiều nhạc sỹ đã đủ sức để phản ánh sự sống động của lịch sử. Chiến thắng lẫy lừng ở Điện Biên Phủ làm chấn động địa cầu cũng được nhạc sỹ Đỗ Nhuận ghi lại qua Chiến thắng Điện Biên . Bài hát được viết theo dạng ký sự, nhưng có tính khái quát cao. Tác giả đã tạo dựng lên một không khí tưng bừng của ngày giải phóng, mà hầu như ở đây, khó có một loại hình nghệ thuật nào có sức gợi cảm, gợi tả, gợi liên tưởng như ca khúc này. Cũng như nhiều bài hát sau này, Chiến thắng Điện Biên không chỉ đơn thuần phản ánh về thời sự, về một sự kiện trọng đại lúc bấy giờ, mà nó còn là điểm gợi nhấn quan trọng trong dòng chảy lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ở thế kỷ XX. Bước sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có nhiều sự kiện diễn ra, nhưng đáng chú ý là: Thứ nhất: Sự kiện vịnh Bắc bộ, là mối quan tâm đặc biệt của các nhạc sỹ. Nói cách khác, đây là đề tài mà lúc bấy giờ, các nhạc sỹ cần phản ánh và phải phản ánh dưới lăng kính của nghệ thuật cách mạng, để động viên kịp thời mọi lớp người nâng cao tinh thần chuẩn bị đáp trả hành động xâm lược của kẻ thù. Một loạt bài dưới dạng ngôn ngữ cổ động đã được ra đời, ngôn ngữ ấy được nhấn mạnh