Sinh năm 1927, bố tôi, ca sĩ Văn Hanh, đã hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) từ năm 1955, đến năm 1988, thì nghỉ hưu. Cả đời, ông chỉ theo đúng một nghề: hát trên làn sóng điện Đài TNVN. Trước khi được tuyển vào Đoàn Ca nhạc Đài TNVN, ông đã là bộ đội Cụ Hồ từ năm 18 tuổi, năm Cách mạng Tháng 8-1945 thành công và tham gia chiến đấu chống Pháp ở mặt trận Hà Nội từ năm 1946. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp, xuất ngũ, theo gia đình tản cư ở Thái Nguyên, chiến khu Việt Bắc. Ông có chị ruột là Thương Huyền, hát suốt tuần lễ Vàng ở Hà Nội, lên Việt Bắc hát suốt 9 năm kháng chiến, về lại Hà Nội, hát ở 58 Quán Sứ, cho đến ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc 1954, và thành NSND của Đài TNVN, hát đến khi về cõi năm 1989. Hai chị em, bố tôi và bác tôi thành đồng nghiệp ca sĩ, cả đời cùng hát trên Đài TNVN. Năm nay, ca sĩ Văn Hanh đã 89 tuổi, 90 tuổi mụ. Ông vừa được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú, và là nghệ sĩ cao tuổi nhất trong đợt phong tặng tại Nhà hát Lớn Hà Nội, ngày 10-1-2016. Tôi đưa ông đến Nhà hát Lớn từ sớm để nhận danh hiệu. Bố tôi mừng mừng tủi tủi vì tưởng đã "bị quên" hơn hai mươi năm, từ khi nghỉ hưu. Đến hôm nay, được công nhận nghệ sĩ ưu tú, tôi nghĩ, ông có thể vui mừng sống thêm ở đời hàng chục năm nữa… Từ một người hát chơi đã thành ca sĩ hát trên Đài TNVN Mẹ tôi, gái làng Đình Bảng, tản cư từ Kinh Bắc lên Thái Nguyên, bán hàng xén, gặp bố tôi khi ấy giải ngũ về làm ở Chi sở Kho thóc Thái Nguyên, cưới nhau năm 1950 và sinh tôi đầu năm 1951. Theo nhớ lại của bố tôi, mẹ tôi mê bố tôi vì hát hay, đàn ngọt. Ông tự đệm ghita gỗ, hát những ca khúc lãng mạn và cách mạng. Ông lại đẹp trai. Còn ông, ông yêu sự đảm đang, biết quán xuyến gia đình, biết kiếm tiền của mẹ tôi, dù bà hơn ông vài tuổi. Ông cứ vừa đi làm, vừa đàn hát chơi từ khi còn rất trẻ, vào lính Cụ Hồ, cho đến khi ra quân, lấy mẹ tôi, sinh ra 4 con, hai trai hai gái, rồi ông về Hà Nội, thi tuyển vào Đoàn Ca nhạc Đài TNVN, về ở hẳn Hà Nội năm 1955, phố Quán Sứ, nhà 58, như một ca sĩ độc thân, để lại vợ con, sống bằng ngôi hàng xén của mẹ tôi trên phố Tân Long, tỉnh Thái Nguyên. Tôi còn bé, mới 4,5 tuổi, mỗi lần nhớ bố, lâu không thấy bố lên Thái Nguyên, tôi luôn mồm hỏi mẹ: Bố đâu, sao bố không về với con? Hỏi nhiều, mẹ tôi gắt: “Ra mà hỏi cái loa phát thanh trên cái cây đầu phố kia kìa. Bố đang hát từ Hà Nội, gọi bố xuống mà chơi với con”. Trên cái loa to, đang văng vẳng tiếng hát bố tôi, sau này tôi biết đó là bài Tình trong lá thiếp , hát cùng bác Huyền tôi: Ngày mai anh về anh cùng em hát bài lý tang tình, cho thỏa lòng nhớ mong… Tôi hong hóng mặt lên cái loa màu thiếc to tướng trên đầu, gào lên: "Bố ơi xuống đây với con". Loa vẫn oang oang trên cao, không thấy bố xuống, tôi òa khóc, chạy về ngôi hàng xén, bắt đền mẹ: "Sao bố cứ ở trên cái loa, hát mãi mà chẳng xuống với con?". Đấy là kỉ niệm về bố hát, hằn sâu vào trái tim bé dại của tôi từ thuở còn thơ ở thị xã Thái Nguyên, thiếu khát bố, chỉ biết bố sống trên cái loa, hát qua cái loa mà không chịu xuống. Sau này, bố tôi lên đón cả nhà về Hà Nội đoàn tụ, tôi vào học lớp 1, năm 1957, tôi mới biết Hà Nội khác Thái Nguyên, quá lớn rộng, quá đẹp, và từ ấy, tôi được can dự vào cuộc đời ca hát của bố và cả bác tôi, trên Đài. Nhất là cuộc đời ca hát của bố. Và cũng từ đấy, âm nhạc đã thấm vào lòng tôi, tạo cho tôi một dòng văn nghệ, lan tỏa từ huyết thống. Vốn chỉ hát nghiệp dư, kiểu hát chơi, như những kịch sĩ, đạo diễn thời trước CMT8, chơi kịch tài tử. Từ hát chơi chơi, ông tự học hát, xướng âm ca từ theo nốt nhạc, hát theo phối khí của nhạc đệm. Thanh nhạc hồi đó là một môn học mới, phải được học bài bản trong trường lớp, mới có thể thành tài, song, ông và các ca sĩ thế hệ thứ nhất của Đài TNVN, sau hòa bình lập lại, đã chỉ được học hát qua giảng dạy của chuyên gia thanh nhạc từ Liên Xô sang Việt Nam truyền giảng. Trai ba mươi tuổi đang xoan, khi ấy bố tôi đang hăng hái, miệt mài và đam mê hát, lại được học hát một năm dưới sự hướng dẫn tận tình bà giáo người Nga Kraxnova tại Khoa Thanh nhạc - Trường Âm nhạc Việt Nam. Ông đã hát giọng nam cao rất sáng, rất tình, và khá chuẩn, được bà giáo Liên Xô và bạn cùng học thời ấy: ca sĩ Quý Dương, Trần Hiếu, Trung Kiên, Thúy Huyền khen là giọng nam cao đẹp và chuyên nghiệp, lời khen ấy với ông là cực kì quý giá. Và cũng từ đây, giọng hát ông như được chắp cánh, ông đã nổi tiếng cùng lứa ca sĩ đầu tiên của Đài TNVN: Trần Thụ, Thịnh Trường, Trần Khánh, Kim Oanh A, Nguyễn Thị Hồng, Tuấn Kỳ, Kim Khánh, Ngọc Diệp, Mộng Dung, Bạch Kim… (Nghệ sĩ Văn Hanh (ảnh chụp năm 1956). Hồi nhớ mấy năm đầu về Hà Nội, tôi hay được chứng kiến những đêm một mình tập hát thật nhọc nhằn và thật say mê của ông trước khi lên phòng thu. Ông tự xướng âm nốt nhạc, hát lời theo nốt, tự đệm đàn ghita. Tôi đã viết về tiếng hát bố tôi trong một hồi kí (in trong sách Mặt người mặt hoa của tôi, NXB Văn hóa - Văn nghệ TP HCM, 2010): "Những đêm khuya tĩnh lặng. Mẹ tôi ngồi đan áo len thuê, bố tôi bò trên cánh phản solfier bài hát. Chiếc đàn guitare nằm bên cạnh. Tôi đương lơ mơ ngủ, bỗng tỉnh dậy bởi tiếng mưa đêm gõ lộp bộp xuống mái lá. Từ trên cây đàn guitare gỗ trên tay bố tôi, rơi theo mưa bập bùng những hòa âm trầm, nghe buồn não lòng. Ông đang tập bài Dòng sông của Trần Viết Bính: “Nhà em ở phía bên sông, nhớ ngày phiên chợ còn đông, đôi bờ chưa cắt dòng sông, anh cùng em chung một cánh đồng”… Ông đang hát, khi các con đã ngủ, hát khe khẽ, đàn nhẹ nhẹ chuẩn bị cho buổi thu thanh ngày mai ở Đài. Đêm sâu lắng. Mưa đêm và tiếng đàn đêm cứ rơi rơi lãng đãng xuống tim tôi. Trái tim tôi quá non nớt, mới tám, chín tuổi đầu nhưng đã mơ hồ cảm thấy cái sức mạnh vật chất của tiếng đàn và bắt đầu thấm thía cái đau đớn trong từng ca từ ở đâu đó trong lòng… Rồi có đêm, bố tôi đang hát thì đột ngột dừng đàn. Trên cái ga len đầu giường ngủ tôi đang phát ra tiếng hát đầy tình cảm và trong trẻo của hai chị em, bố tôi và bác tôi song ca bài Tình trong lá thiếp của Phan Huỳnh Điểu. Hai tiếng hát quấn quyện, đượm tình ấy gieo vào hồn tôi như có bùa mê. Tôi l