(Thượng nguồn sông Côn) Sông Côn còn gọi là sông Kôn hoặc sông Kone là dòng sông lớn nhất của tỉnh Bình Định nhưng bắt nguồn từ các tỉnh Kon Tum- Gia Lai ở độ cao 925 m từ khối núi Ngọc Roo và từ vùng núi cao huyện An Lão, rồi chảy qua huyện Vĩnh Thạnh nơi có hồ Vĩnh Sơn thủy điện Vĩnh Sơn,hồ Bình Định. Hầu hết các con sông ở Bình Định đều phát nguyên tại dãy Trường Sơn ở phía Tây và chảy xuống biển Đông, theo chiều rộng của tỉnh, nên không được dài lắm. Lòng sông nhiều khúc bị cát bồi, mùa nắng nước cạn, ghe thuyền trọng tải không thể lên xa được. Trong tỉnh có ba con sông lớn, được liệt vào hàng Đại Giang, là: Lại Dương Giang, La Tinh Giang, Côn Giang. Đó là ba “Sợi tim” của ba huyện cũ Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn. Trong ba đại giang này, sông Côn lớn nhất. Ngày xưa gọi là sông Tuy Viễn. Đến triều Đồng Khánh (1885-1889), sau khi đất Tuy Viễn đã chia thành ba huyện Bình Khê, Tuy Viễn, Tuy Phước, thì sông lấy tên là Ba Huyện. Và sau khi huyện Tuy Viễn đã bị bãi bỏ để lấy đất cho phủ An Nhơn, và huyện Tuy Phước đổi làm Phủ, tên Ba Huyện không còn thích hợp nữa tên mới đổi tên là Côn Giang. Tên Côn Giang mới có từ triều Khải Định (1916-1925), Triều Duy Tân, khi soạn Đại Nam Nhất Thống Chí (1910) còn dùng tên Ba Huyện. Chữ Côn mượn ở Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Nam Hoa Kinh chép rằng: “Biển Bắc có loài cá tên là Côn. Bề lớn của Côn không biết mấy nghìn dặm. Côn hóa thành loài chim tên gọi là Bằng. Lưng của Bằng rộng không biết bao nhiêu dặm. Vùng vẫy bay, cánh như đám mây rũ ngang trời. Loài chim ấy khi biển động thì sắp dời sang biểnNam… BiểnNamlà Ao Trời… Khi Bằng dời sang BiểnNamthì nước sóng sánh ba nghìn dặm. Liệng theo gió lốc mà lên chín vạn dặm. Đi cứ sáu tháng mới nghỉ…”. Mượn tên Côn mà đặt cho sông, cổ nhân dụng ý cầu mong cho con cháu sanh trưởng trên dãi đất đã sản sinh các vị hào kiệt Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Mai Xuân Thưởng v.v… mà dòng sông Côn nhuần thấm, có ngày trỗi dậy “quạt cánh bằng bay chín vạn tầng cao”. Nếu không được như thế, ít ra cũng đừng làm những giống cá con con hễ thấy mồi ngon là đớp. Đó là hoài bão, là kỳ vọng. Uống nước nhớ nguồn. Và nguồn gốc tên sông Côn là thế. “Sông Côn phát nguyên từ núi Kim Điều về huyện Bình Khê”. Đó là lấy những con suối ở gần dưới này mà nói. Chứ nếu đi lên nữa thì chúng ta thấy nguồn phát tận vùng giáp giới ba tỉnh Quãng Nghĩa, Kontum, Bình Định. Nơi đó các con suối hợp lại, rồi chảy vào Nam, quanh co giữa các dãy Trường Sơn, vượt qua nhiều gành, nhiều thác, lướt gần 50 cây số thì đến Định Quang. Khúc này tục gọi là Suối Kon. Tuy hai bên bờ có nhiều khe nhỏ từ Tây chảy xuống, từ Đông chảy lên, nhưng nước thường không được nhiều và lòng suối có phần hẹp. Đến Định Quang, suối tiếp nhận nước Suối Sem từ Tây Bắc chảy xuống, rồi chạy vào chừng vài cây số đến Vĩnh Thạnh thì tiếp nhận thêm nước con suối từ Đông bắc chảy vào. Tại đây dòng nước quày xuống hướng Đông, đi chừng hai cây số đến Vĩnh Bình, thì lại quẹo vào Nam, chảy quanh co chừng mười, mười hai cây số đến Hữu Thuận, thì lại chảy ngược lên hướng Tây. Lên chừng vài cây số, đến Thượng Giang, thì gặp dòng Suối Cỏ từ Tây Bắc chảy vào. Từ Định Quang xuống Thượng Giang tục gọi là sông Hà Giao hay Hà Rêu. Khúc sông này hẹp, lòng lại thường nổi đá từng đống. Thuyền bè lên xuống rất khó khăn. Tại giáp khẩu Suối Cỏ, dòng sông lại trở xuống ĐôngNam. Đi chừng hai cây số đến Tả Giang thì gặp suối Ba La, từ Đồng Tre ở phía TâyNamchảy ra. Từ giáp khẩu suối Ba La. Lòng sông mở rộng, và theo hướng ĐôngNam, chạy chừng chín, mười cây số thì đến địa đầu Phú Phong. Bắt đầu từ Hữu Giang, Tả Giang trở xuống, sông mới chính thức gọi là Côn Giang. Trên khúc sông từ Tả Giang, Hữu Giang xuống Trinh Tường, đây đó nổi lên những đống đá đen láng. Đối với việc lưu thông đó là những chướng ngại vật. Nhưng đối với du khách thì đó là những món “gia vị” có thể gọi là “nên thơ”. Mùa lụt thì những đống đá ấy bị ngập, không trông thấy, nhưng đến mùa nắng thì những khả ái như những hòn non bộ trong các hồ nước trong của đám phong lưu, tài tử. Truyền rằng xưa kia ông Khổng Lồ thường ngồi trên những đống đá trong vùng, để câu. Hiện còn để dấu nơi hòn Đá Tượng. Hòn Đá tượng không phải ở trong sông, mà ở trong suối Ba La, gần sông, cách cầu Ba La chừng vài chục thước. Đây là một tảng đá cao lớn (mỗi chiều có đến 10 thước). Trên mặt có dấu hai bàn chân và có dấu mổng ngồi, to lớn. Các ông bà già cả quyết đó là chân và mổng ông Khổng Lồ ngồi câu. Những dấu Ông Khổng Lồ để lại trên các cụm đá khác trên sông đã bị nước “gọt rửa” hết. Vì có chuyện “ Khổng Lồ ngồi câu trên đá” nên khách làng thơ gọi là “ Đá Khổng Lồ”. Đá Khổng Lồ không thấy trên khúc sông từ Trinh Tường đến Phú Phong. Đến địa đầu Phú Phong, sông Côn tiếp nhận nước sông Đá Hàng. Từ nguồn xuống cho đến cuối Trinh Tường, ngoài những dòng suối đã kể, sông Côn tiếp nhận nhiều suối khe khác nữa. Nhưng các phụ lưu ấy, phần nhiều đều khô cạn về mùa nắng không “giúp ích” cho sông được bao nhiêu. Chỉ có sông Đá Hàng là phụ lưu quan trọng. Sông Đá Hàn không dài lắm và có hai nguồn. Một phát tại vùng Núi Bà thuộc An Nhơn, chảy từ Nam ra Bắc, rồi quành lên Tây, độ vài chục cây số, thì gặp dòng suối Đồng Hưu thuộc thôn Phú Phong quận Bình Khê từ hướng Tây chảy xuống. Hai suối hợp lại chảy lên hướng Tây Bắc. Lên độ năm cây số thì gặp nguồn thứ hai, là suối Đồng Le từ phía Tây chảy xuống. Nguồn này chỉ bằng nửa nguồn trước (chừng 11, 12 cây số). Hai nguồn hợp lại thành sông Đá Hàng chảy ra sông Côn về hướng Đông Bắc. Từ chỗ giao chi của hai nguồn đến sông Côn, bề dài của sông Đá Hàn không trên 10 cây số. Lòng sông lắm nơi đá mọc lởm chởm, thác đổ bọt tung. Thôn Trinh Tường nằm ở bờ Tây./ Thôn Phú Phong nằm ở bờ phía Đông. Cách nơi giao thủy giữa sông Đá Hàng và sông Côn, chừng một cây số, có một dãy đá xanh nổi lên như một đập đá chạy từ Phú Phong lên Trinh Tường. Người địa phương gọi là dãy Đá Hàng, và con sông do đó mà mệnh danh. Thường thường dãy Đá Hàng bị ngập nước, sõng nhỏ, bè lớn, lên xuống dễ dàng. Nhưng đến mùa nắng thì đá bày ở nhiều chỗ, sõng bè không qua được.