Một bài dân ca có thể là một câu hát, một câu hò đơn giản, một bài hát tương đối hoàn chỉnh được vận hành có tính chất đơn lập hoặc nằm trong hệ thống chương trình của một canh hát như: Hát đúm, hát ví, hát ghẹo, hát trống quân, hát quan họ… Nói đến dân ca, tức nói đến hình thức âm nhạc lời được hình thành và tồn tại dưới dạng cấu trúc thơ. Và, theo quy luật vận động của nghệ thuật âm thanh, thì giá trị mỹ học dân ca chỉ được xác định khi gắn liền với phương thức diễn xướng, nếu không chỉ là bài dân ca “im lặng”. Hát dân ca ví, dặm. Ảnh: Báo Nghệ An Diễn xướng, gắn liền với hành động cụ thể của con người, và còn bởi lẽ, dân ca là để hát. Có hát lên mới đem lại nguồn cảm xúc hoàn chỉnh, và hiệu quả nghệ thuật. Có hát lên, mới hiểu được tính cách địa phương, tính cách dân tộc, của miền Bắc hay của miền Nam được ký âm, chỉ là một bản nhạc trên danh nghĩa, nếu không hát lên, ta không thể thưởng thức một cách đầy đủ nét đặc trưng phong cách của nó. Và có hát lên, dân ca mới được lưu truyền, tồn tại. Nếu xét về điểm xuất phát, thì lời ca là khâu vật chất duy nhất để phát triển dòng tư duy thẩm mỹ bằng âm thanh. Dân ca phát triển tạo điều kiện cho các thể thơ dân tộc phát triển tạo điều kiện cho sự mở rộng chiều sâu nhận thức dân ca. Lời thơ phát triển, chính là do yêu cầu phát triển nội dung xã hội. Nội dung dân ca giải quyết trực tiếp những vấn đề tư tưởng tình cảm, tâm lý thời đại gắn liền với ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày. Gặp nhau ở đám hội, trai gái có thể tỏ tình bằng một câu hát như câu nói bình thường, nhưng lại là nghệ thuật của âm nhạc và thi ca. Nam: Gặp đây mận mới hỏi đào, Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Nữ: Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào... Nam: Gặp đây anh năm cổ tay, Anh chuộng về nết anh say vì tình Nữ: Xin chàng buông tay em ra, Rồi mai em lại đi qua chốn này... V.v... Họ “gặp nhau” nhiều như vậy mà không chán, vẫn cứ “mê” vẫn cứ say. Và có lẽ do đặc điểm này, dân ca Việt Nam thường được cấu tạo bằng một khuôn mẫu làn điệu, ứng với một khuôn thơ dân gian, chẳng hạn thơ bốn chữ, năm chữ, và đặc biệt là thể sáu tám (Lục bát). Hát dân ca ví, dặm Với khuôn thơ sáu tám người ta có thể hát bằng nhiều làn điệu dân ca khác nhau: Hát đò đưa, hát ví, hát ghẹo, hát lý, hát chèo, hát cửa đình... Vì thế, ở mỗi khuôn làn điệu có thể soạn được nhiều lời ca khác nhau theo mô hình thơ đã định. Hiện nay, đối với một số làn điệu dân ca truyền thống tiêu biểu, người ta cũng đặt lời mới cho thích hợp với nội dung tư tưởng thời đại theo cách thức như vậy. Làn điệu âm nhạc và cấu trúc thơ vốn có mối tương đồng và vận mệnh theo hình tuyến thời gian. Tuy nhiên, chúng ta có thể phân biệt: một bên dùng biện pháp biểu đạt qua ngữ điệu của ngôn từ cụ thể, một bên dùng biện pháp biểu đạt bằng âm thanh mang tính trừu tượng. Ở phương Tây, thời xa xưa, thuật ngữ âm nhạc dùng để chỉ các thứ nghệ thật nhảy múa và âm nhạc. Trong nhạc có thơ. Thơ là nhịp điệu của ngôn ngữ. Múa là nhịp điệu của động tác. Âm nhạc là nhịp điệu của âm thanh. Nhịp điệu là nguồn gốc sinh thành và phát triển sự sống. Giọng nói con người được xem như cây đàn muôn điệu, nhưng bản thân tiết nhịp trong cấu trúc thơ thường rập khuôn theo tình huống nội dung, không vượt khỏi sự vận động nội tại của nó. Chẳng hạn, câu sáu tám nguyên dạng: Trúc xinh, trúc mọc bờ ao Em xinh em đúng nơi nào cũng xinh. Để trở thành dân ca nó phải phát triển theo con đường tiết tấu dựa trên khuôn thơ và hình thức cấu trúc âm nhạc về câu, đoạn mà thuật ngữ âm nhạc gọi là khúc thức. Từ đó, hệ thống những tiếng đệm lót, đưa hơi trong dân ca được hình thành. Câu sáu tám nói trên khi được hát lên đã phải thêm những tiếng đệm lót. Cây trúc xinh, tang a tình là cây trúc mọc, qua lới nọ ao bên bờ ao Chị hai xinh tang tình là chị hai đứng, đứng đứng nơi nào qua lới như cũng xinh. Khuôn thơ sáu tám đã bị phá theo yêu cầu phát triển của ngôn ngữ âm nhạc, nhưng cũng chính con đường phát triển đó đã khẳng định lại các thể thơ. Hát chèo Như vậy, một bài dân ca được cấu tạo bởi hai yếu tố văn và nghệ. Nhưng khi dân ca được hát lên, thì không còn phân biệt đâu là văn, là nghệ mà chỉ còn là dòng tư duy thẩm mỹ bằng ngôn ngữ âm nhạc. Phương thức diễn xướng đồng thời gắn liền với môi trường thẩm mỹ. Môi trường thẩm mỹ là nơi phát sinh, phát triễn diễn xướng. Diễn xướng phát triển, làm tăng chất lượng và số lượng tác phẩm văn nghệ dân gian trong phạm vi gia đình như bà ru cháu, chị ru em... hay một canh hát tỏ tình trai gái trên sông nước, trên đồng ruộng, trước sân đình và cũng có thể là không gian rộng lớn như đám hội: Hội Lim, hội Dóng, hội chèo tàu, hội đền kiếp Bạc... Cùng một không gian, thời gian, ta thấy xuất hiện nhiều trò, nhiều kiểu diễn xướng khác nhau. Trong đình thì hát múa thờ thần và chúc tụng dân làng; phía trước cửa đình , dưới sông là bơi chải, bên đầu đình là hát thổi cơm thi, dệt vải thi ... Diễn trường là cả một đại thể giữa thiên nhiên và đám hội. Người đi xem tùy ý, thích trò gì tới xem trò đó. Tước bỏ diễn xướng, tác phẩm văn nghệ dân gian chỉ còn là thứ tư liệu đơn thuần. Hơn nữa nói đến kết cấu là môi trường là phải nói đến thời gian nghệ thuật, tức là thời gian để tổ chức thực hiện phương thức ứng diễn các tiết mục, tiểu phẩm... dài hay ngắn, tập thể hay cá nhân. Hát dân ca quan họ Chính thời gian nghệ thuật đã phần nào quyết định sự hình thành các thể loại dân ca và các trò diễn dân gian nói chung. Thời gian nghệ thuật cũng là thời gian cả người thưởng thức đều cùng biểu hiện các thái độ tình cảm. Như đã nói dân gian sáng tác chủ yếu là để diễn, để hát. Vì vậy, một bài dân ca khi được hát lên thì giữa văn và nghệ là một thể thống nhất. Nghệ tức là làn điệu, làn điệu có tính chất biến động và trừu tượng. Nghệ mà ta nhận thức được là nhờ vào trình diễn. Người không biết nghệ và không nghe hát thì chỉ có thể cảm thụ văn học lời ca đơn thuần khi bài hát được ghi lại dưới dạng kết cấu thơ. Giữa hai phạm trù văn và nghệ khi nói đến văn tức là nói đến đặc trưng của nghệ thuật ngôn ngữ âm thanh. Và trong tiếng nói con người thì ngữ đi