(Bộ chỉ huy chiến dịch) Theo Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nguyên Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, đây là lần đầu tiên ta tổ chức một chiến dịch hiệp đồng Đông - Tây, hiệp đồng giữa các chiến trường, là sự phối hợp tác chiến quy mô lớn giữa quân cơ động của Bộ và quân chủ lực của chiến trường Trường Sơn, Trị Thiên, Quân khu 5. Chúng ta chuẩn bị hỏa lực mạnh chưa từng có, ngoài phòng không, pháo binh, xe tăng cũng rất mạnh. Đây là chiến dịch điển hình nhất về chuẩn bị cơ sở vật chất, còn về tác chiến thì ta làm chủ hoàn toàn từ đầu đến cuối. Một chiến dịch mà từ đồng chí Bí thư thứ nhất, đồng chí Tổng tư lệnh đến chiến sĩ đều phấn khởi. “Sau chiến dịch, anh Lê Trọng Tấn gọi điện cho tôi, nói: tớ đánh rất nhiều chiến dịch rồi nhưng chưa có chiến dịch nào đánh thoải mái như chiến dịch này” , ông Đồng Sỹ Nguyên nhớ lại. Chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào 1971 cho ta nhiều kinh nghiệm quý báu về chỉ đạo chiến lược, chiến dịch, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần thiết thực vào việc chỉ đạo xây dựng huấn luyện và tác chiến cho lực lượng vũ trang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện chỉ đạo của Quân uỷ Trung ương, với kế hoạch nghi binh hoàn hảo, các lực lượng của ta ở Lao Bảo, Sê-pôn, Khe Sanh… những nơi ta đã giải phóng và ẩn mình, làm cho địch tưởng ta suy yếu. (Bộ đôi Việt Lào cùng chung chiến hào) Chúng tung một lực lượng lớn, gồm Quân đoàn 1, bổ sung thêm các lực lượng thiện chiến nhất thuộc quân tổng trừ bị như Sư đoàn dù, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân… Mặc dù lúc đó, lực lượng phòng không của ta tập trung ở Đường 9 rất mạnh, gồm 1 trung đoàn tên lửa, 5 trung đoàn cao xạ. Riêng súng máy 12,7 mm và 14,5 mm, lực lượng diệt trực thăng lợi hại, có tới 21 đại đội Nhưng do chúng ta giấu kín lực lượng, ngày đầu chiến dịch chỉ sử dụng hỏa lực bộ binh, nên địch chủ quan, điều động một lúc 600 máy bay trực thăng chiến đấu. Gặp lưới lửa phòng không dày đặc của ta được bố trí sẵn, 120 máy bay trực thăng của Mỹ rơi tại chỗ. Việc đổ quân của chúng xuống các cao điểm để chốt chặn con đường chi viện vào Nam của ta không thực hiện được. Tướng Abram cho rằng, “máy bay lên thẳng là chìa khoá để giải quyết cuộc chiến tranh ở Việt Nam” . Trong cuộc hành quân Nam Lào, Mỹ đã huy động từ 600 chiếc (ngày đầu tiên) lên 1.000 chiếc. Máy bay lên thẳng là phương tiện cơ động chủ yếu của cuộc hành quân. Giới quân sự Mỹ còn tin tưởng rằng, trong trường hợp quân đội Sài Gòn bị vây, thì máy bay lên thẳng Mỹ “sẽ bốc họ ra khỏi vòng vây trước sự ngỡ ngàng của đối phương”. (Đập tan trực thăng vận) Nhưng sự thật hoàn toàn ngược lại. Quân đội Sài Gòn đã tiến chậm chạp. Trong cả cuộc hành quân, chúng tiến chẳng được, lui không xong, tháo chạy không thoát và cuối cùng bị đại bại. Máy bay lên thẳng Mỹ và cái chiến thuật Mỹ cho là “lợi hại nhất” đã bị đánh tơi bời. Cái gọi là “tác dụng tuyệt đối” , chiến thuật cơ động lực lượng lớn, chi viện hoả lực - theo Mỹ đánh giá, có hiệu quả nhất đã mất hiệu lực. Trong số 1.000 máy bay lên thẳng của Mỹ tập trung cho cuộc hành quân Lam Sơn 719, thì có tới 600 chiếc bị phá huỷ, trong tổng số 730 máy bay các loại bị diệt, chiếm hai phần ba lực lượng máy bay lên thẳng tham chiến. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào không phải là lần đầu tiên máy bay lên thẳng Mỹ thất bại, nhưng đây là lần thua lớn nhất, đau đớn nhất từ trước tới giờ. Như tờ Người quan sát mới (Pháp) ngày 29/3/1971 bình luận: “Ý nghĩa sâu sắc của cuộc hành quân Lam Sơn 719 là chỉ ra thất bại lớn đầu tiên của loại máy móc từ trước đến nay vẫn được giới quân sự Mỹ dương dương tự đắc trong cuộc chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam – đó là máy bay lên thẳng”. Cùng với hàng đàn máy bay lên thẳng, Mỹ và quân đội Sài Gòn đã tung vào chiến trường Đường 9 một lượng lớn xe tăng, xe bọc thép, với hơn 300 xe - tương đương một sư đoàn thiết giáp. Chúng kỳ vọng, “dùng lực lượng thiết giáp là lực lượng đột kích” , tạo sức đột kích mạnh, đẩy nhanh tốc độ tiến công trên hướng Lao Bảo – Sê-pôn, kịp thời áp đảo đối phương. Tuy nhiên, sau 52 ngày đêm, toàn bộ lực lượng xe tăng, xe bọc thép của hơn 4 thiết đoàn đã bị Quân giải phóng tiêu diệt toàn bộ, không còn chiếc nào chạy thoát. Một đòn đau chưa từng có đối với lực lượng tăng thiết giáp Mỹ, làm phá sản chiến thuật “dùng thiết giáp làm lực lượng đột kích” của Mỹ-quân đội Sài Gòn, mà chúng dày công nghiên cứu. Đối với Quân giải phóng, đây là một bước phát triển về nghệ thuật đánh tiêu diệt lực lượng thiết giáp của địch. Mở ra triển vọng to lớn trong việc tiếp tục làm mất hiệu lực xe tăng, xe bọc thép địch. Đồng thời khẳng định nghệ thuật kết hợp các hình thức, các loại vũ khí để tiêu diệt xe tăng địch. (“Mồ chôn” thiết giáp) Trong tham luận gửi Hội thảo “Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971: tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử” , Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, viết: Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào đầu năm 1971 tác động mạnh đến cục diện chiến trường, giáng một đòn nặng vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Đế quốc Mỹ. Chiến thắng lịch sử đó thực sự đánh dấu bước trưởng thành mới của Quân đội ta. Giờ đây, sau 40 năm nhìn lại, chúng ta có thêm điều kiện nhận thức sâu sắc hơn tầm vóc, ý nghĩa của Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, tài thao lược của Đảng ta, mà trực tiếp là Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương – “bộ não” chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước... Hoàng Hà