Anh cười: Vui thú đời đi chăn bò... Cách mạng cần, việc nhỏ việc to Đánh Mỹ, nuôi bò, việc gì cũng quý.(Tố Hữu) Báo chí đã viết nhiều về Hồ Giáo, đã có truyện về Hồ Giáo, có thơ về Hồ Giáo, có bài hát về Hồ Giáo. Nhưng mấy chục năm nay Hồ Giáo vẫn là một đơn nhất, không lặp lại. Phải nhìn ở một góc khác mới hiểu được người chăn bò siêu phàm này. Khi tôi viết bài này ông Thanh Thảo gọi điện nói : “Hồ Giáo là tấm kính chiếu yêu. Người chính trực soi vào đó sẽ thấy mình chính trực. Yêu quái đội lốt người mà soi vào đó, sẽ hiện nguyên hình”. "Ở Quảng Ngãi này ai cũng biết ông Hồ Giáo là người chăn bò hai lần được phong anh hùng, ai cũng biết giờ ông đã sắp 80 tuổi rồi mà vẫn còn chăn trâu. Hằng ngày ông vẫn đi từ thị xã đến trại trâu, ai đi qua đều nhìn thấy. Nhưng người ta chỉ biết vậy thôi. Hồ Giáo vẫn là một bí mật, ngay cả đối với người Quảng Ngãi", nhà thơ Thanh Thảo nói đầy ẩn ý trước khi nhờ một anh bạn đưa tôi đến đây. Tôi hiểu ý ông Thanh Thảo. Anh Hồ Giáo và các "thiếu nữ" Đội 8 nông trường Ba Vì năm xưa Giữa đám cỏ voi cao quá đầu, Hồ Giáo đang mặc áo mưa lom khom cắt, lom khom bó cỏ thành từng bó, sắp vào chiếc xe cút kít. Ông vừa cắt cỏ vừa nói chuyện với chúng tôi. Tôi hỏi ông vì sao sau khi tập kết ông lại đến Ba Vì đi chăn bò, ông chậm rãi: "Tập kết ra Bắc tôi vẫn là bộ đội, ở Sư đoàn 350 bảo vệ thủ đô. Đến năm 1960 theo lời kêu gọi của Bác Hồ giảm 8 vạn quân, ai ở miền Bắc thì về nhà, ai ở miền Nam ra thì được chuyển ngành, ưng đi đâu thì đi "Ở nông trường mỗi tuần tôi học 3 buổi tối, thứ hai thứ tư thứ sáu, nhiều khi có mấy chữ mà học ba bốn ngày không thuộc. Bộ Nông trường cho tôi xuống Bắc Ninh học. Đi đợt đó có 3 người chưa hết lớp hai, là tôi, một ông ở Cà Mau, một ông người Lào. Ông Bí thư trường bổ túc nói: trường này tối thiểu phải xong lớp bốn mới nhận, riêng ba anh thuộc diện đặc biệt không xong lớp nào hết. Phải ở lại đây học cho đến bao giờ đỗ cấp 2 mới được về. Học khó quá anh ơi. Nhưng tôi quyết tâm học, học cho xong để về. Học ngày học đêm, mười tháng tôi dớt luôn cái bằng cấp hai. Lớp có 43 người chỉ một mình tôi đậu. Hai ông kia phải vào Đồng Dao học tiếp". Xếp bó cỏ vào xe cút kít, ông cười nói thêm: "Tôi cũng gặp may. Ba bốn ngày trước khi thi tôi tập trung ôn bài, hôm đó đề thi ra đúng phần tôi học kỹ, bây giờ gọi là trúng tủ Tôi hỏi ông hồi ở Ba Vì ông có đặt tên cho những con bò hay không, ông bảo bò Ba Vì không có tên mà chỉ gọi theo số. Việc đặt tên là đặt từ lứa trâu Mura đầu tiên đến Sông Bé. Ông kể: "Sau giải phóng, Ấn Độ tặng Việt Nam 502 con trâu, trong đó có 2 con Thủ tướng Ấn Độ tặng riêng cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ba chuyến máy bay chở đàn trâu xuống sân bay Tân Sơn Nhất năm 1977. Từ đó tôi chuyển qua nuôi trâu". "Không. Tôi chỉ nuôi trâu thôi!" Ở Sông Bé bác giữ chức vụ gì?", tôi lại hỏi một câu vô duyên. "Không. Tôi chỉ nuôi trâu thôi. Hồi ở Ba Vì tôi nuôi bò, làm đội trưởng đội 1, lãnh đạo bảo tôi làm phó giám đốc, nhưng tôi không làm được, tôi nói với mấy ổng: tôi lớn tuổi, trình độ không có, để người trẻ có trình độ làm. Về Sông Bé cũng bảo tôi làm phó giám đốc, tôi cũng không nhận. Trước khi về đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gọi tôi lên, có ông Viện trưởng Viện Chăn nuôi nữa. Tôi nói: đưa tôi vào làm chăn nuôi trực tiếp thì tôi làm, làm quản lý thì không". Ông bảo ở Ba Vì thời ông làm có 1.200 công nhân nhưng chỉ có 8 kỹ sư, còn ở Sông Bé công nhân có 330 người, có 30 kỹ sư. "Ở Sông Bé vắt sữa trâu mệt hơn, ở Ba Vì vắt sữa bò nhẹ hơn, nhưng bò có con trái nết nếu không khéo bị nó đá. Tính chung lại thì hai bên như nhau". Đưa đàn trâu Mura về Sông Bé lúc ấy mục đích là phát triển nhân giống cho dân làm sức kéo và xây dựng một cơ sở làm sữa trâu, đáp ứng nhu cầu sữa cho nhân dân, vì lãnh đạo nghĩ sữa trâu rất tốt. Ông Hồ Giáo lại đem hết tài nghệ để chăm lo cho đàn trâu. Các chuyên gia Ấn Độ hồi ấy đã kinh ngạc khi chứng kiến từng con trâu do ông Hồ Giáo chăm sóc tự bước lên bàn cân để kiểm tra trọng lượng khi được gọi tên. Tại đây, ông được phong anh hùng lao động lần thứ hai (1986). "Đàn trâu nhân ra nhanh, nhân dân nuôi rất nhiều, có ông nuôi tới 100 con, đến lúc tôi nghỉ hưu Sông Bé có 1.404 con". Ngừng một lát, ông buồn rầu: "Nhưng bây giờ chỉ còn 40 con thôi". Lấy tiếp nắm cỏ cho con Núi Tròn ăn, ông Hồ Giáo kể tiếp: "Năm 1990 tôi đến tuổi hưu. Đầu tiên tôi định ở lại thành phố (TP.HCM), một số anh bảo đừng về Quảng Ngãi làm chi cho cực, ở lại đây làm, lương tháng 800 ngàn". "Họ muốn bác làm gì?". "Cũng nuôi bò sữa. Nhưng ông Phạm Văn Đồng nghe tôi về hưu gọi ra. Ổng đưa 15 con trâu Mura về Quảng Ngãi, bảo tôi về nuôi đàn trâu, là cái trại này đây". Ông lại hào hứng: "Cái trại này lúc nhiều nhất là 20 con. Nhưng từ 15 con đầu tiên nhân ra nhiều lắm. Đẻ bao nhiêu phân cho các huyện, Nghĩa Hành bao nhiêu, Tư Nghĩa bao nhiêu… Huyện giao trâu về xã, xã giao xuống cho dân. Sông Bé trước đây cũng vậy. Xã chọn người để giao, không bán. Yêu cầu là, trâu nuôi lớn rồi phải lai tạo với trâu mình, một trâu đực Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Hồ Giáo Phải phối cho ra 15 trâu con, một trâu cái phải đẻ 2 con. Làm được như vậy thì tất cả trâu mẹ trâu con là của anh, cho anh hết, Nhà nước không thu tiền, cũng không lấy lại trâu". Ông nắm rất chắc những ưu điểm nhược điểm của trâu Mura so với trâu ta. Ông nói: "Lúc đầu nhiều ông già bà già chê trâu Mura: chóp đuôi có chòm lông trắng, trán cũng có chòm lông trắng. Ông bà ta coi trâu trước hết là coi xoáy, nhưng xoáy của trâu này lung tung không giống trâu ta. Còn mắt thì trâu này có con hai con mắt đều đen hết, có con mắt phải đen mắt trái trắng, bà con nói trâu này mù. Giải thích cho họ khó lắm. Tôi nói: bác đứng đó tôi đem nắm cỏ cho nó ăn xem nó có thấy không. Nó thấy và ăn hết. Giải thích mãi mấy ổng mới chịu". Ông giải thích cho dân và chứng minh trong thực tế là trâu Mura rất nhiều ưu điểm: "Trâu Mura đuôi dài, ăn khỏe. Cỏ, rơm rạ, đọt mía non, bột mì (sắn), bắp, đậu tương… thứ gì cũng ăn tuốt. Trâu này kéo cày rất tuyệt, mỗi ngày cày được 3-4 sào trong khi trâu mình chỉ cày 2 sào là cùng, thêm cái ha