(Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ATK Việt Bắc) Thật bất ngờ khi về thăm Khu di tích lịch sử ATK ở Định Hoá Thái Nguyên, chúng tôi mới hay ở đây, ban quản lý đang chuẩn bị lễ kỷ niệm 65 năm, Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về ATK Định Hoá lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (20/5/1947- 20/5/2012) và kỷ niệm 122 năm, Ngày sinh của Người (19/5/1890-19/5/2012). Không khí thật rộn ràng. Nhiều đoàn người đến, hồ hởi như đón trước một ngày hội. Nhất là các em nhỏ, tay cầm cờ, hò reo và chạy nhanh lên khu di tích ATK ở trên cao… Cho dù Nhà trưng bày Bảo tàng ATK Định Hoá đã được khánh thành cách đây 5 năm, to lớn bề thế trên Đào De, nhưng trong lòng chúng tôi lại về đây với một tình cảm đặc biệt - Trở về quê hương Việt Bắc của những ngày đầu kháng chiến, cùng với những câu thơ thân thương của cố nhà thơ Tố Hữu viết về Bác Hồ: "Vui sao một sáng tháng Năm Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ Suối dài xanh mướt nương ngô Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn…" Đúng là chúng tôi đang về với thủ đô gió ngàn như ngày nào, cách đây hơn nửa thế kỷ, ai ai cũng ngưỡng mộ. Mặt trời vừa nhô lên đỉnh núi Hồng, mọi vạn vật nơi đây bừng sáng. Chim muông ríu rít reo ca. Những luống hoa còn rớt lại ánh xuân thắm đỏ, qua những bông râm bụt, trên hàng cây mà Bác trồng ngày nào bên lán Tỉn Keo. Giờ đây chúng vẫn xanh tốt đâm chồi nảy lộc. Màu sắc ấy lại gợi nhớ cho chúng ta rằng, tại nơi đây, ngày 6-12-1953, Bác đã cùng các nhà lãnh đạo có một quyết định lịch sử mở mặt trận Điện Biên. Lán Tỉn Keo ghi dấu ấn như thế đó. Về đến đây biết bao hình ảnh thân thương của Bác lại hiện lên trong từng mảnh đất, bờ suối, cánh rừng, mái lá. Khi đẫn chúng tôi đến di tích đồi Khau Tý, nơi ở đầu tiên của Bác khi mới lên Định Hoá, cô gái hướng dẫn viên nói rất chi tiết Bác, ngày ấy làm việc từ ngày 20-5 đến ngày 10-11-1947. Tại nơi đây, Bác đã lãnh đạo quân đội ta đánh tan âm mưu của giặc muốn đánh úp bộ Tổng chi huy của ta. Đó là chiến tháng Việt Bắc, tạo nên niềm tin thắng lợi cho một cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta. Và, tại cái lán trên đồi Khau Tý này, Bác Hồ đã sáng tác nhiều thơ ca, trong đó có bài "Cảnh khuya". Rồi chúng tôi bất ngờ nghe giọng trong vắt của cô gái, khi đọc lên những câu thơ, tưởng như rất quen thuộc; nhưng lại vang lên đúng nơi đây, tại di tích lịch sử này, nơi mà chúng tôi không thể tưởng tượng nổi khi còn trên ghế nhà trường. Bài thơ nghe thật thiêng liêng, với vẻ đẹp của một thi nhân đang đau đáu nỗi lo cho đất nước: "Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà" (ATK Định Hóa-Thái nguyên) Ai cũng rõ sau này bài thơ còn được nhà thơ Nguyễn Trung Thu cảm tác đưa vào bài thơ "Đêm Trường Sơn nhớ Bác" và được nhạc sĩ Trần chung phổ nhạc. Bài hát này là một minh chứng cho sức mạnh tinh thần của Bác theo suốt năm tháng cùng vận mệnh của đất nước cho đến ngày giải phóng hoàn toàn. Những ký ức đầy lãng mạn cách mạng, trên đồi Khau tý làm rung động tâm hồn chúng tôi, khi nhớ lại những ngày đầu tiên của Bác lên Định Hoá. Rồi cũng tại nơi đây, vào ngày xuân năm 1947, Bác còn viết bài thơ "Cảnh rừng Việt Bắc" rất đáng yêu. Đây là bài thơ xuân đầu tiên, trong cuộc kháng chiến trường kỳ này, có những câu ta không thể quên: "Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Chim kêu vượn hót suốt cả ngày Khách đến thì mời ngô nếp nướng Săn về thường chén thịt rừng quay. Non xanh nước biếc tha hồ dạo Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say Kháng chiến thành công ta trở lại Trăng xưa, hạc cũ với xuân này" Cây dâm bụt Bác trồng 60 năm trước (tại ATK Định Hóa - Thái Nguyên). Và dường như trong sự tưởng tượng bất ngờ của chúng tôi, những cánh chim bồ câu của bác nuôi ngày nào vẫn đang bay lượn đâu đây, với đôi mắt hiền hậu, trên mỏ chúng còn cặp những lá thư hoà bình gửi cho toàn thế giới rằng, dân tộc ta luôn luôn muốn sống hoà bình và hạnh phúc. Thế rồi, chúng tôi mang cảm xúc này trên con đường dẫn về lán Khuôn Tát, nơi Bác làm việc 3 lần, mối lần từ một tuần đến ba tháng. Việc phải thay đổi nơi làm việc là một nguyên tắc lúc đó đề ra để giữ bí mật mỗi khi có những quyết định quan trọng và chiến dịch xảy ra. Chính vì thế mà những người dân ở đây đều gọi Bác là Già Ké. Đến lán Khuốn Tát, chúng tôi phải đi qua một bãi cỏ rộng và cây đa cổ, cỡ khoảng trăm năm tuổi. Trên bãi cỏ này, trước kia là nơi Bác đã cùng các chiến sĩ và cán bộ tập thể thao, chơi bóng chuyền, hay ngồi nghỉ dưới cây đa. Trước kia người ta gọi là cây đa Khuôn Tát, sau này còn đặt tên là "Cây đa Bác Hồ" , để ghi dấu một di tích minh chứng cho hình ảnh của Bác vẫn còn hiển hiện với bà con thôn bản nơi đây, tại cái xóm Khuôn Tát, xã Phú Đình hẻo lánh này. Đáng chú ý trước khi lên lán mọi người đều phải lội qua một con suối cắt ngang. Đó cũng gọi là suối Khuôn Tát, cùng với những bãi đá rất đẹp. Đồng thời cũng là nơi Bác hay tắm giặt, hoặc thường ngồi câu cá mỗi khi nghỉ ngơi hoặc cần phải suy nghĩ điều gì đó trong công việc. Cách đấy không xa còn có thác Khuôn Tát, một thắng cảnh đẹp, với 7 tầng chảy ào ạt quanh năm. "Ông Ké" trong lòng dân Tân Trào Thế mới hay ông Già Ké này có con mắt thật tinh tế, khi chọn những địa điểm làm việc, ngoài những nguyên tắc của mình nhưng vẫn gắn liền với non nước hữu tình đúng như ông đã đề ra: Trên có núi, dưới có sông - Có đất ta trồng có bãi ta vui. Hay kèm theo đó còn phải đạt yêu cầu: Tiện đường sang Bộ Tổng - Thuận lối tới Trung ương. Nhà thoáng ráo kín mát - Gần dân không gần đường. Lấy dân làm gốc, Bác Hồ đã sống ở Việt Bắc trong suốt chín năm trường kỳ kháng chiến với ý tưởng nhất quán phải dựa vào sức dân. Chính vì vậy, nếu hỏi bất kể ai, những người lớn tuổi đều thuộc một bài thơ vô danh vẽ nên chân dung Người, rất giản dị thân thương với những câu: "Quần sắn cao, chân đi đôi dép Chiếc áo chàm vá hai miếng ở vai Trán cao lắm. mắt sáng, dâu hơi dài Khi nói chuyện hay ví câu hát lượn…" Hình ảnh dung dị này đã được nhà thơ Tố Hữu cũng đã mô tả trong bài thơ Việt Bắc: "Nhớ ông cụ mắt sáng ngời Áo nâu túi vải, dẹp tươi lạ thường Nhớ Người những sáng ti