Đại Tá Ba Hưng Bài hát này được phổ biến rộng rãi, có sức động viên đồng bào, chiến sĩ tham gia giết giặc, gìn giữ non sông. Không chỉ ở Nam Bộ mà cả ngoài Bắc; không chỉ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và cho đến nay thính giả vẫn nghe được trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam hoặc các đài địa phương. Ai cũng có vài ba lần nghe bài hát ấy. Cụ già, cựu chiến binh và cả các em nhỏ thì rất thích. Ca từ mộc mạc cùng với tiết tấu nhạc dễ hát nên nhiều người nhớ, thuộc. Trong kháng chiến chống Mỹ, thiếu nhi Cà Mau hát và còn sáng tác thêm bài vè Ba Hưng rất hồn nhiên và ngộ nghĩnh. Lúc sinh thời, cố nhạc sĩ Trần Kiết Tường (1924-1999) kể chuyện ra đời bài hát Anh Ba Hưng, bắt nguồn từ bài dân ca Con chim manh manh Nam Bộ : “Con chim manh manh, nó đậu cây chanh. Tôi vác miểng sành liệng nó chết giãy. Tôi làm bảy mâm, biếu ông một mâm, cho bà một dĩa. Bà hỏi con chim gì, tôi nói con chim manh manh…”. Gia đình ông Ba H ưng Còn bài hát Anh Ba Hưng thì “Có anh Ba Hưng, vốn thiệt nông dân, lưng lớn ba vùng mà hổng chịu đầu quân. Thằng Sáu thấy anh nó cười. Thiệt thằng nhỏ xíu mà khôn. Nó trêu nó trêu anh hoài. Nó nói cái lưng anh dài, nó nói cái mặt anh chai, thanh niên sao không đi lính, cũng không cấy cày. Anh Ba đỏ mặt tía tai. Về nhà xin đi lính đã hơn năm trường, vừa mới được huân chương. Thằng Sáu thấy anh nó mừng. Láng giềng hỏi thăm sự tình. Tôi nói có anh Ba Hưng…” . Bài hát với giọng điệu hài hước, vui nhộn, dễ thuộc, khuyến khích trai làng đầu quân. Nhạc phẩm Anh Ba Hưng được viết ở Giá Rai (Bạc Liêu) với câu chuyện: Trong một trận đánh Pháp năm 1947, ở đoạn đường Đốc Bét – Xóm Lung (Bạc Liêu), bộ đội ta giết nhiều giặc, phá hủy nhiều xe cơ giới, trở thành lá cờ đầu lập chiến công ở huyện Giá Rai. Trận đánh dưới sự chỉ huy của Trung đội trưởng Hứa Hòa Hưng. Anh em gọi thân mật là anh Ba Hưng. Sau trận thắng lớn, đơn vị tổ chức mừng chiến công. Đoàn văn công Nam Bộ đến tham dự liên hoan biểu diễn văn nghệ và đi thực tế sáng tác. Đoàn gồm các nhạc sĩ và ca sĩ như: Trần Kiết Tường, Văn Luyến, Tường Thanh, Văn Lưu, Khánh Dân… Qua giới thiệu của anh em về chiến công của người chỉ huy trận đánh này, Trần Kiết Tường liền sửa lời như mọi người đều biết và kịp chuyển sang đài Tiếng nói Nam Bộ phát sóng. Lời bài hát sửa như sau: “Có anh Ba Hưng, vốn thiệt nông dân. Đi lính ba năm trường vừa mới được huân chương. Thằng Sáu nó khen anh hoài. Cái thằng nhỏ xíu mà khôn. Nó khen, nó khen anh hoài. Nó nói rằng anh có tài, nó nói mới một năm nay, mà anh đã giết Tây hơn trăm thằng”. Lễ cưới với chú rể là vệ quốc đoàn, cô dâu là nữ du kích xã cho nên không khí rất vui tươi. Bà Sáu kể, gia đình chú rể phải đi ghe chèo tay từ Long Điền đến xã Tân Ân (huyện Ngọc Hiển) mất hơn một ngày trời. Sau lễ cưới, cô dâu theo Ba Hưng về Long Điền (nay là Long Điền Đông). Chú rể chỉ được nghỉ phép một tuần. Những năm về sau cũng vậy, Ba Hưng đi biền biệt, một năm mới về phép thăm vợ con một lần. Ông Ba Hưng cùng người vợ hiện nay Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh Ba Hưng xin phép đơn vị trở về Dầu Tiếng để tìm lại người thân, nhưng do chiến tranh tàn phá, cửa nhà tan nát, gia đình ly tán, một vài người còn ở lại cho biết gia đình vợ con của anh đã sơ tán lên vùng Hố Nai sinh sống từ trước 1968. Sắp xếp việc cơ quan xong, ngày 16-5-1975, Ba Hưng nhờ một anh lính chở xe Honda lên Hố Nai- Biên Hòa hỏi dò tin tức vợ con. Những người ở đây hỏi lại: Có đến 4 Hố Nai, anh hỏi Hố Nai nào? Ba Hưng đứng lặng hồi lâu, người thất thần, mất hết hy vọng. Bỗng trong ký ức hiện về một thông tin: Hố Nai gần hai cái chợ (chợ Thái Bình và Chợ Sặt). Tìm suốt ngày, vẫn không có thông tin gì về người bên Dầu Tiếng qua đây sống, vì đây là khu vực xóm đạo, nếu có người lạ ở, chắc hẳn sẽ biết. Vừa bước vào nhà, Ba Hưng đã nhận ra ngay người cha vợ. Nhưng ông cụ do lâu ngày không gặp, tuổi già và mắt đã lờ mờ, tai lãng nên không nhận được con rể. Sau một lúc, trấn tĩnh lại, Ba Hưng bật hát lên câu: “Có anh Ba Hưng... vốn thiệt nông dân” rồi nước mắt vui mừng nhòa đi. Nghe đến đây, ông cụ thảng thốt kêu lên mừng rỡ: “Thằng Hưng... thằng Ba Hưng đó sao con…?”. Rồi ông cụ rưng rưng nước mắt đưa tay chỉ vào đứa cháu gái khoảng 7-8 tuổi đang đứng thập thò ở cửa buồng nãy giờ và run giọng: “Đó.! Con gái của mầy đó”. Cha con ôm nhau mừng vui, nghẹn ngào, sung sướng tột cùng. Nhiều bà con hàng xóm nghe tin chạy sang. Khi anh Ba Hưng còn trong vòng tay của cha vợ và con gái cưng lần đầu tiên gặp mặt thì ai đó đã chạy đi chở Sáu Hường, vợ anh, đang làm thuê ở một nơi khác về… Thế là sau 9 năm xa cách, anh Ba Hưng đã tìm lại được người thân, gia đình sum họp. Cuộc đời ông còn gắn liền với con số 9 như một định mệnh: năm 19 tuổi đi bộ đội đánh Pháp, năm 1949 nổi tiếng nhờ bài hát Có anh Ba Hưng và quen người vợ đầu tiên. 9 năm học tập ở miền Bắc rồi về Nam chiến đấu, cưới vợ lần 3 và chia tay đến ngày giải phóng gặp lại tròn 9 năm, lúc đó Ba Hưng cũng đúng 49 tuổi. Gia đình ông Ba Hưng là người Việt gốc Hoa. Các anh em trai của ông đều tham gia cách mạng. Ba Hưng là một trong số ba người con đều là cấp tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày hội Lúa Gạo Chị Hứa Thị Trinh - người con gái thứ tư của ông kể: “Trong chiến đấu ông rất nhanh nhẹn, tả xung hữu đột, khí phách kiên cường nhưng ở nhà thì ông hiền khô. Ông trầm tĩnh, chẳng bao giờ nóng nảy điều gì. Ông rất vui vẻ với bạn bè, rất chu đáo với vợ con. Còn tinh thần cách mạng thì hăng hái tuyệt vời”. Ông hay kể về chiến tranh, về những chiến công và người lính. Ông giảng giải cho các con các cháu về quân hàm, quân hiệu, về ngôi sao, cành tùng gắn trên vai, trên mũ. Nhìn vào có thể là phân biệt được cấp bậc, quân chủng… Nhưng ông cũng rất nghiêm khắc. Con cháu quê ở Cà Mau lên Đồng Nai thăm ông, bao giờ ông cũng nhắc nhở, mình là gia đình có truyền thống cách mạng, phải thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, phải cẩn thận mọi điều. Khi về hưu, ông ở Trung tâm điều dưỡng của Quân khu 7. Ông nói với con cháu rằng ông vẫn sẽ gắn bó với quân đội đến hết đời. Khi chết cũng sẽ nằm chung với đồn