Trần Văn Khê Giáo sư - Tiến sĩ Khi nhắc đến nhà soạn nhạc Lưu Hữu Phước, người ta thường nhớ đến những hành khúc bất hủ đã kêu gọi dân tộc Việt Nam tham gia cách mạng, đã khơi niềm tự hào dân tộc ngang qua chiến công anh dũng của người xưa, đã mật thiết gắn bó với những cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc cho đất nước và cho dân tộc Việt Nam. Ít ai biết đến loại nhạc trữ tình mà thỉnh thoảng, trong khi không ngừng nghĩ đến nghĩa chung, anh ghi lại đôi chút tình riêng. Chính trong những bản tình ca đó, nét nhạc dân tộc truyền thống rất đậm, tiết tấu giai điệu không bó khuôn vào thể hành khúc mà thong thả, khoan nhặt, bổng trầm theo nhịp điệu của con tim. Chúng tôi không đề cập vấn đề “trữ tình” với nghĩa rộng của nó, mà Giáo sư Quang Hải trong bài tham luận tại Cần Thơ đã nêu rõ. Chúng tôi chỉ nhắc lại đôi ba thí dụ điển hình trong đó Lưu Hữu Phước đã để trọn vẹn lòng mình, tình cảm của mình trong những nhạc phẩm mà theo chúng tôi, có một giá trị nghệ thuật đặc biệt. Theo thứ tự thời gian tôi ghi lại bài Ai nhớ ai , loạt bài trong ca kịch Tục lụy , bài Hương Giang dạ khúc và bài Lời ru chim Lạc . AI NHỚ AI Bài này sáng tác tại Hà Nội năm 1941. Lúc đó Phước thường nghe những người hát rong và xúc động trước các lối ngâm Sa mạc, bồng mạc của những người nhạc sĩ mù. Trong khi tập dượt trước khi lên sân khấu thì Phước thường đàn mandoline cho các ca sĩ bắt hơi. Phước có cảm tình với một nữ sinh có giọng hát “oanh vàng”. Nhưng khi biết được nữ sinh ấy đã đính hôn, thì Phước, mà chúng tôi thường gọi là “ông thần lương tâm”, đã không để lộ tình cảm của mình mà còn có ý tránh gặp nữ sinh ấy. Trong bài này chúng tôi không phân tích bài hát về thang âm điệu thức, chỉ ghi lại cảm giác của chúng tôi khi nhận được bài hát Phước ghi trên một tờ giấy và nói: Phước đưa cho Khê xem bài này nhưng không được phổ biến hay hát trong các dạ hội. Nét nhạc đẹp quá. Hơi Sa mạc rõ quá. Lời chân thật giản dị đầy tình cảm. Tôi hát nhỏ cho Phước nghe. Bài Phước viết theo nhịp ba mà có ghi rõ Légato tức là đàn hát dính liền nhau như tiếng ngâm. Tôi hát theo cách Rubato, tức là không theo hẳn tiết tấu ghi định trong bài thì Phước rất tán thành. Đến đoạn “Dài đêm dài, ai nhớ ai” thì vào nhịp. Có nhịp phách mà hơi hướng vẫn đậm màu Sa mạc. Đấy không phải bắt chước y khuôn Sa mạc với lời thơ lục bát hay song thất lục bát mà tiết tấu rất mới. Đúng là một sáng tác mới tuyệt vời đậm màu sắc dân tộc, dựa trên vốn cổ mà không nệ cổ, không bắt chước rập khuôn, không lấy nét nhạc nguyên xi mà là một sáng tác mới trong thời ấy. Sau này có dịp tôi giới thiệu bài Ai nhớ ai và tự phù họa bằng đàn tranh, người nghe có thể tưởng là tôi biểu diễn nhạc cổ như ngâm Kiều theo Sa mạc hoặc ngâm bài Anh Khóa . Đầu năm 1943, cô M.Ng. nữ sinh trường Đồng Khánh đến tìm nhạc sĩ Lưu Hữu Phước để chuyển lời ông Thế Lữ nhờ nhạc sĩ phổ nhạc kịch thơ Tục lụy . Cô M.Ng. sau sẽ đóng vai Diễm Tiên trong vở ca kịch, đã khéo thuyết phục nhạc sĩ bỏ nhiều thì giờ để phổ nhạc cả vở kịch. Đặc biệt là hôm cô đem thêm một bài Phiêu phiêu gió reo trên ngàn . Tuy đang bận suy nghĩ để phổ nhạc những bài thơ đã có trong vở kịch, khi cô M.Ng. đem thêm một bài khác, nhờ cách khẩn khoản duyên dáng, nên khi cô vừa ra khỏi cửa, đi chưa đến chiếc xe tay đang đợi cô bên kia đường nhạc sĩ đã phổ nhạc bài thơ ấy. Tuy chỉ có một cảm tình nhẹ nhàng nhưng nhà soạn nhạc đã được nguồn hứng để sáng tác nhiều bản nhạc tuyệt vời, những bài ca bất hủ. Cả vở ca kịch Tục lụy là một bản tình ca lớn trong đó có nhiều bài rất hay, rất lạ không phải những câu mực thước, những tiết tấu đều đặn, thúc dục như những hành khúc hay những bài ca lịch sử, mà qua lời thơ nhẹ nhàng, nét nhạc uyển chuyển, mềm mại, đa dạng. Đầu bài ca đi theo điệu múa, tiết tấu cũng rất dịu dàng như động tác của ba nàng tiên “lả lướt khúc nghê thường” trong các bài Khúc Nghê Thường, “Gặp tiết xuân dịu dàng”, “Ta là một nàng thơ trong tiên giới”, “Ta nhảy múa dưới luồng ánh sáng”, “Cùng Đồng Tân ta véo von tiếng sáo”. Có những bài đậm đà “hơi nhạc cải lương tài tử” như đoạn đối ca giữa Tiều phu và Nhã Tiên, mở đầu bằng bài “Ta bấy lâu tấm thân trơ trọi” có vài nét nhạc của bản Xàng Xê và tiếp theo 6 bài đối ca “Giọng Quảng” “Ta là một gái đồng trinh”. Đặc biệt nhất là bài Hồi áng mây hồng . Nhã Tiên nhìn đám mây trôi mà nhớ cảnh Bồng lai và muốn theo mây trở về trời mà không thấy cánh. Đoạn đối ca giữa Nhã Tiên và Tiếng Vang rất ngọt ngào: Ta như một trái đào tiên và Đây rừng sâu im vắng của Nhã Tiên được Tiếng Vang lập lại hai tiếng chót của mỗi câu rồi đàn bài "Xưng tên". Ta là tiếng vang trong rừng rú, bài khuyên giải nàng tiên hãy dập sầu bi, hãy kiên tâm, kiên tâm than thân có ích gì. Khi Nhã Tiên tìm được cánh muốn trở về trời thì Tiếng Vang nhắc cho Nhã Tiên nhớ đến thân phận của những đứa trẻ mồ côi trong bài Buổi chiều đông và khi nghe con khóc Nhã Tiên đã ru con bằng một bài hát ru rất mới rất đẹp: Hò ơ hớ... Nín đi con, bú đi con... Chớ khóc chi cho lòng mẹ đau Đoạn các chim và Nhã Tiên đối ca đầy thi vị. Các chim lo rằng khi Nhã Tiên về trời rồi thì các chim đói no, ai nào lưu ý. Nhã Tiên cố khuyên các chim đừng lưu luyến ai hoài và khi Nhã Tiên quyết định không về trời, các chim vui mừng hát vang: Ta vui sướng Tiên nga sẽ không lánh trần ai. Cùng trong năm 1943, Lưu Hữu Phước đã có dịp trao đổi thư từ với một cô gái Huế có bí danh là Thu Hương và khi nhạc sĩ ghé đất Thần Kinh, tuy không được diện kiến người thiếu nữ chỉ biết qua giọng văn mà chưa biết mặt, rất xúc động khi được mời dạo thuyền trên sông Hương, thấy các cô gái Huế nhón chân bước xuống thuyền rồi tình mơ thương nhớ. Lưu Hữu Phước chỉ nghe hò mái nhì trên sông Hương một đôi lần, mà khi hồi nhớ lại, đã khéo thể hiện những nét nhạc mang âm hưởng của nhạc vùng có sông Hương núi Ngự, có những cách cho “câu Kể” (một người hát) xen kẽ với “câu Xô” (nhiều người hát) như câu Hò hụi, Hò nện miền Trung có câu mở đầu mang hơi hướng câu xô của hò mái nhì. Câu kết với nét nhạc rất Huế của hai chữ yêu kiều trước hai chữ trong mơ . Sau đó năm 1945 Lưu Hữ