徵兵家眷 (Trưng binh gia quyến - Gia quyến người bị bắt đi lính)
Nguyên văn
郎君一去不回頭,
使妾閨中獨抱愁。
當局可憐余寂寞,
請余來暫住牢囚。
Phiên âm
Lang quân nhất khứ bất hồi đầu,
Sử thiếp khuê trung độc bão sầu.
Đương cục khả liên dư tịch mịch,
Thỉnh dư lai tạm trú lao tù.
Dịch thơ
Biền biệt anh đi không trở lại,
Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu;
Quan trên xót nỗi em cô quạnh,
Nên lại mời em tạm ở tù.
一個賭犯硬了 (Nhất cá đổ phạm "ngạnh" liễu - một người tù cờ bạc chết cứng)
Nguyên văn
他身只有骨包皮,
痛苦飢寒不可支。
昨夜他仍睡我側,
今朝他已九泉歸。
Phiên âm
Tha thân chỉ hữu cốt bao bì,
Thống khổ cơ hàn bất khả chi.
Tạc dạ tha nhưng thuỵ ngã trắc,
Kim triêu tha dĩ cửu tuyền quy.
Dịch thơ
Thân anh da bọc lấy xương,
Khổ đau, đói rét hết phương sống rồi,
Đêm qua còn ngủ bên tôi,
Sáng nay anh đã về nơi suối vàng.
難友吹笛 (Nạn hữu xuy địch - Bạn tù thổi sáo)
Nguyên văn
獄中忽聽思鄉曲,
聲轉淒涼調轉愁。
千里關河無限感,
閨人更上一層樓。
Phiên âm
Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu.
Thiên lý quan hà vô hạn cảm,
Khuê nhân cánh thuớng nhất tằng lâu.
Dịch thơ
Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu,
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.
郭先生 (Quách tiên sinh - Tiên sinh họ Quách)
Nguyên văn
萍水相逢談片刻,
郭君對我甚慇懃。
雪中送炭雖然少,
世界仍存這種人。
Phiên âm
"Bình thủy tương phùng", đàm phiến khắc,
Quách quân đối ngã thậm ân cần;
"Tuyết trung tống thán" tuy nhiên thiểu,
Thế giới nhưng tồn giá chủng nhân.
Dịch thơ
"Gặp nhau bèo nước", chuyện gần xa,
Ông Quách ân cần đối đãi ta.
"Rét đến cho than", tuy chẳng mấy,
Đời nay người thế vẫn còn mà.
Dịch thơ: Nam Trân