Khai quyển (開卷 - Mở đầu tập thơ)
Nguyên văn
老夫原不愛吟詩,
因為囚中無所為。
聊借吟詩消永日,
且吟且待自由時。
Phiên âm
Lão phu nguyên bất ái ngâm thi,
Nhân vị tù trung bất sở vi.
Liêu tá ngâm thi vô sở nhật,
Thả ngâm thả đãi tự do thì.
Dịch thơ
Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây;
Ngày dài ngâm đợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Văn thung mễ thanh (聞舂米聲 - Nghe tiếng giã gạo)
Nguyên văn
米被舂時很痛苦,
既舂之後白如綿。
人生在世也這樣,
困難是你玉成天。
Phiên âm
Mễ bị thung thì, ngận thống khổ,
Ký thung chi hậu, bạch như miên;
Nhân sinh tại thế dã giá dạng,
Khốn nạn thị nhĩ ngọc thành thiên.
Dịch thơ
Gạo đem vào giã bao đau đớn,
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông.
Ở trên đời người cùng vậy,
Gian nan, rèn luyện mới thành công!
Tảo giải (早解 - Giải đi sớm)
Nguyên văn
一次雞啼夜未闌,
群星擁月上秋山。
征人已在征途上,
迎面秋風陣陣寒。
東方白色已成紅,
幽暗殘餘早一空。
暖氣包羅全宇宙,
行人詩興忽加濃。
Phiên âm
Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san.
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,
U ám tàn dư tảo nhất không.
Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
Hành nhân thi hứng hốt gia nùng.
Dịch thơ
Gà gáy một lần đêm chửa tan,
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn,
Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.
Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng,
Bóng tối đến tàn, quét sạch không,
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.
Người dịch: Nam Trân.