BCĐCNT
Đăng nhập
Đồ — Đỏ
Rê — Đen
Mi — Trắng
Fa — Xám
Sol — Xanh lá
La — Xanh dương
Si — Tím
Chi tiết

Tỳ bà hành

Trình bày: Quách Thị Hồ (1962)
Thể loại: Ca trù
212 14/3/2025
thiếc1 năm trước

Lời dân ca

Tỳ bà hành (琵琶行) là một bài thơ Đường do Bạch Cư Dị sáng tác năm 861, viết theo thể ca hành thất ngôn trường thiên. Bạch Cư Dị lúc này đang giữ chức Tư mã ở quận Cửu Giang, Giang Châu. Một đêm sau khi tiễn bạn trên bến Tầm Dương, ông nghe thấy ai đó đang tấu một khúc nhạc ở kinh đô bằng đàn tỳ bà. Tiếng đàn thánh thót bay trên mặt sông phẳng lặng, khiến lòng ông vô cùng xao xuyến. Ông bèn tìm đến gặp người con gái chơi đàn để hỏi thử. Nàng bèn kể lại cuộc đời truân chuyên của mình: "Bản Trường An xướng nữ, thường học tỳ bà ư Mục, Tào nhị thiện tài. Niên trưởng sắc suy, uỷ thân vi cổ nhân phụ" (Tôi vốn là con hát, quê ở Trường An, học đàn tỳ bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn thường theo thuyền buôn đi đây đi đó). Bạch Cư Dị nghe vậy bèn dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn cho nghe. Trong tiếng đàn cuộc rượu, nàng đã dốc hết tâm sự, kể lại chuyện đời mình từ lúc trẻ, từ khi còn yên ấm đến lúc phải lưu lạc giang hồ. Cảm thương trước cuộc đời đầy đau khổ, bất hạnh cũng như ngưỡng mộ trước tài năng của người ca nữ, Bạch Cư Dị đã viết bài thơ này để tặng nàng.

Có thể nói "Tỳ bà hành" là một tác phẩm bất hủ của nền văn học Trung Quốc. Bài thơ đã phơi trần sự mục nát của chế độ phong kiến lúc bấy giờ, lên tiếng tố cáo xã hội tàn nhẫn, sẵn sàng chà đạp lên quyền được sống và quyền được hạnh phúc của mỗi con người. Qua hình ảnh người cô phụ trên bến Tầm Dương, Bạch Cư Dị đã thể hiện niềm thương cảm sâu sắc dành cho những con người tài hoa nhưng bất hạnh, chịu nhiều đau khổ trong cuộc sống. Tỳ bà hành như một bản tuyên ngôn vạch trần sự độc ác, bất công, nhơ nhuốc của xã hôi đương thời, cất lên tiếng nói đòi quyền được sống, quyền được hạnh phúc của con người.

Ở Việt Nam, bài Tỳ bà hành đã được dịch nhiều lần, song bản dịch hay nhất có lẽ là bản dịch của Phan Huy Thực, sử dụng thể thơ song thất lục bát truyền thống của dân tộc. Bản dịch này đã đưa Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị đến với tâm hồn của đông đảo nhân dân Việt Nam, giống như cách mà Nguyễn Du đã đưa Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải,... đi vào đời sống của người Việt với Truyện Kiều. Bản dịch của Phan Huy Thực không chỉ được nhuận sắc, chau chuốt cho hay thêm bởi những người sử dụng cho việc hát ca trù qua các bản Nôm chép tay mà còn được bổ sung, sửa chữa khi phiên âm, giới thiệu ra chữ Quốc ngữ. Có thể nói đây là một kiệt tác dịch thuật của nền văn học Việt Nam.

Với nghệ thuật Ca trù, Tỳ bà hành được xem là một trong những ca khúc kinh điển. Trong Ca trù, người ta thường sử dụng bản diễn Nôm của Phan Huy Thực. Qua tiếng đàn đáy, tiếng trống chầu, tiếng phách và giọng hát của ca nương, từng câu từng chữ của bài hành này như được thổi hồn, trở nên sống động lạ thường. Không những thế, Tỳ bà hành được xem là tác phẩm đã vực dậy bộ môn Ca trù. Trong nỗ lực để bảo tồn bộ môn Ca trù, vào tháng 4/1976, Giáo sư Trần Văn Khê đã về nước để thu âm giọng hát nghệ sĩ Quách Thị Hồ để UNESCO in đĩa nhựa. Đến năm 1983, bài hát Tỳ bà hành trong đĩa này đã được bình chọn là một trong chín tiết mục xuất sắc nhất tại Diễn đàn Âm nhạc Châu Á ở Bình Nhưỡng (Triều Tiên), khiến cả thế giới một lần nữa phải nhắc đến bộ môn Ca trù.

Bản thu này do Viện Âm nhạc Việt Nam thực hiện năm 1962, là bản thu đầy đủ nhất của Tỳ bà hành còn được lưu giữ đến hiện nay.
Ca nương: Quách Thị Hồ
Đàn đáy: Đinh Khắc Ban
Trống chầu: Đinh Thị Nghĩa.

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu.
Người xuống ngựa, khách dừng chèo,
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ty.
(Hầu bẽ) Say những luống ngại khi hầu bẽ,
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.
Tính tình ai vẳng bên sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.
Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá?
Lặng yên đàn, nấn ná làm thinh.
(Thăm tình) Rời thuyền, ghé chèo lại thăm tình,
Chong đèn, thêm chuốc rượu, còn dành tiệc vui.
(Bỡ ngỡ) Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ,
Vẫn ôm đàn che nửa mặt hoa.
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua,
Tuy chưa trọn khúc, tình đà thoảng hay.
Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu.
Chau mày tay gảy khúc sầu,
Giãi bày hết nỗi trước sau (trước sau) muôn vàn.
(Dìu dặt) Ngón buông, bắt khoan khoan dìu dặt,
Trước Nghê thường, sau thoắt Lục yêu.
Dây to nhường đổ trận rào,
Nỉ non dây nhỏ như trò (trò) chuyện riêng.
Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.
Trong hoa oanh ríu rít nhau,
Suối tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh.
Nước suối lạnh, dây mành đứt dừng,
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ.
(Ngần ngơ) Âm thầm đau giận ngẩn ngơ,
Bấy vẻ lặng lẽ thì giờ càng hay.
(Mạch nước) Bình bạc vỡ tuôn đầy mạch nước,
Ngựa sắt giong, sàn sạt tiếng đao.
Tiếng đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa, khảm vào bốn dây.
(Lặng ngắt) Thuyền mấy lá Đông Tây lặng ngắt,
Một bóng trăng trong vắt lòng sông.
Ngậm ngùi đàn đã xếp xong,
Áo xiêm khép nép hầu mong (hầu mong) giãi lời.
(Kẻ chợ) Rằng: “Xưa vốn là người kẻ chợ,
Cồn Hà Mô trú ở lân la.
Học đàn từ thuở mười ba,
Giáo phường đệ nhất chỉn đà chép tên.
Gã thiện tài sợ phen dắng khúc,
Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô.
(Ganh đua) Ngũ Lăng, chàng trẻ ganh đua,
Biết bao the thắm chuốc mua (chuộc mua) tiếng đàn.
Vành lược bạc gãy tan dịp gõ,
Bức quần hồng hoen ố rượu rơi.
Năm năm lần lữa vui cười,
Mãi (trăng) trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu.
Buồn em trẩy lại lo dì thác,
Lần hôm mai đổi khác hình dong.
(Vắng không) Cửa ngoài xe ngựa vắng không,
Thân già mới kết bạn cùng khách thương.
(Ly cách) Khách trọng lời khinh đường ly cách,
Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi.
(Mặc ai) Thuyền không đỗ bến mặc ai,
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng.
(Tuổi trẻ) Đêm khuya, luống nhớ vòng tuổi trẻ,
Chợt mơ màng hoen vẻ phấn son.
(Chạnh buồn) Nghe đàn ta đã chạnh buồn,
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời.
“Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
(Kinh khuyết bấy lâu) Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.
Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,
Tai chẳng nghe đàn cả năm.
Sông Bồn gần chốn cát lầm,
Lau vàng, trúc võ, trang mầm quanh hiên.
i(Sớm tối) Tiếng chi đó nghe liền sớm tối,
Cuốc kêu sầu than, vượn hót véo von.
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn,
Lần lần tay chuốc chén son riêng ngừng.
(Địch nội) Há chẳng có ở rừng địch nội,
Giọng líu lo, buồn nỗi khó nghe.
(Nghe dạo canh khuya) Tỳ bà nghe dạo canh khuya,
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.
(Khúc nữa) Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca.
Đứng lâu dường cảm lời ta,
Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây.
(Đàn trước) Nghe não nuột khác tay đàn trước,
Trong tiệc hoa nghe tuôn nước lệ rơi,
Lệ ai chan chứa hơn người,
Giang Châu Tư mã đượm mùi áo xanh.

Xem thêm
Bình luận
Chưa có bình luận nào