(Tải toàn bộ văn bản) Thư của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (Tư Siêng) Ngày 7-1-1966 Kính gửi anh Bảo Định Giang! Thư trước tôi gửi anh hồi năm ngoái (mơi đây thôi, mà đã qua năm rồi), năm nay thêm một tuổi tôi viết bức thư thứ hai. Xa Nam Bộ 20 năm nay rồi trở lại, lòng rất xúc động, nhất là khi chân để lên đất quê lần đầu tiên, ban đêm, giữa rừng già có mảnh trăng lưỡi liềm tuy nhỏ nhưng đủ ánh sáng rọi xa…”Đường mòn”. Một đồng chí bảo tôi bụm lấy một bụm đất mà hôn, hoặc nằm xuống mà ôm lấy đất. Nhưng tôi chưa hôn đất, chưa ôm đất, mà tôi cảm thấy cả Nam Bộ, cả miền Nam ôm lấy tôi, hôn tôi. Và từ bấy đến nay, mỗi ngày, mỗi ngày cảm tưởng đó càng sâu sắc. Từng việc, từng việc, từng đồng chí chở ô tô tôi đi qua những quãng đường dài dằng dặc, cho tới đồng chí đón tôi đưa tôi theo những con đường mòn rậm rạp, nhắc tôi bước qua một cái rãnh, tránh một cành mây tua tủa gai. Từ sự chăm sóc của đồng chí thủ trưởng cơ quan chữa xe đạp (trật con chó) giúp tôi, đến đồng chí y tá bôi thuốc đỏ cho tôi những vết vắt cắn, ve đốt, gai cào…chăm sóc nhiều lắm, không kể xiết được. Hôm nay tôi ngồi trên võng viết thư gởi anh, tiếng suối reo, chim hót thỉnh thoảng quả “cầy” rơi độp xuống mái nhà lợp bằng lá “trung quân” con ve sầu vút lên một tiếng dài như còi xe lửa xa, những tiếng động hàng ngày ấy không thể làm tôi quên những tiếng cười reo phấn khởi của các đồng chí, các anh chị em lần đầu tiên gặp, hay gặp lại tôi. Đó, những lúc vui đó, những sự chăm sóc đó cho đến những tiếng lá reo, vượn hú, chim kêu, suối reo đó đã gây cho tôi ấn tượng sâu sắc không thể quên được, là miền Nam ôm lấy tôi, bao bọc che chở tôi. Tiếng máy bay phản lực vẫn gầm gừ trên trời, nhưng tôi thấy nó bất lực làm sao khi tôi được sống trong tình thương mến rộng rãi của con người và cả thiên nhiên ở miền Nam yêu quý. Rồi tôi nghĩ: 20 năm nay mình đã làm gì cho miền Nam? Tất nhiên là đã có đóng góp chút đỉnh, nhưng chút đỉnh đó có xứng đáng chưa? Có lẽ trong 20 năm ấy mình có thể làm nhiều hơn nữa…Rồi lại tiếc… Nhưng, những tiếng bom B.52 ầm ì ở chân trời làm tôi sực nghĩ lại: ngoảnh đầu nhìn lại đằng sau hoài thì mất thì giờ, hãy nhìn vào đằng trước, thẳng! Tôi nhớ lại những lời anh Hai, anh Sáu, anh Lành, anh Hà và các đồng chí lãnh đạo trực tiếp dặn dò tỉ mỉ.(Ý kiến anh Hà nói tỉ mỉ hai tiếng đồng hồ, tôi đã báo cáo lại các đồng chí lãnh đạo trong này, cũng như những phương hướng, những nhận định, những gợi ý của anh Hai, anh Sáu, anh Lành). Tôi nhớ lại những lời dặn ân cần ấy, ôn đi, ôn lại như người đi đường xa chuẩn bị cái đèn, cái địa bàn vậy. Vài hôm nữa, nhân dịp Tết tôi sẽ đi thực tế. Có nắm được tình hình mới bắt tay vào việc được. Khi nào về tôi sẽ lại viết thư nữa. Ở đây tính thì giờ, lấy giờ, lấy ngày, tháng để đo đường đi, không thể tính cây số được. Dù biết cây số cũng không thể làm bài tính nhân để tình thì giờ được. Cho nên tôi không hẹn trước, chỉ hẹn khi về đây, bên bờ suối này thì sẽ lại viết thư. Nhưng có vấn đề gấp nữa chờ tôi nắm hoàn toàn tình hình trong này rồi mới đề nghị thì e muộn quá, cho nên căn cứ vào nhận định của các đồng chí Ban Tuyên huấn và Tiểu ban Văn nghệ tôi nghĩ có thể đề nghị một số vấn đề cần giải quyết kịp thời trong thư kèm theo đây. Thân mến chúc anh khỏe, kính gửi lời thăm các đồng chí Đảng Đoàn, các đồng chí lãnh đạo ở Bộ và Hội. Kính lời thăm anh Linh, anh Hà chúc mừng năm mới. L.H.P Ngày 2 tháng 3 năm 1967 Thân gửi anh Bảo Định Giang! Anh không thể nào tưởng tượng được lòng phấn khởi của anh chị em trong này đã dạt dào nhưng thế nào khi những sách báo ảnh miền Bắc đã vào tới nhưng nắng hạn gặp mưa rào. Rồi liền sau đó hai ngày lại được một chuyến nữa nhờ Thông tấn xã Giải phóng pử P.P chuyển giúp. Ai nấy cười cười nói nói, kể cho nhau nghe nào có những gì, có những ai trên ảnh, ai gầy ai béo, nào Bác xem tranh thật kỹ, nào anh Ba trông khỏe mạnh và…anh Bảo Định Giang hơi gầy! Thư của Trần Đình Vân thật chu đáo tỉ mỉ, đã đem một phần không khí xuân của Hà Nội vào làm tươi thêm những lá non của rừng miền Nam vừa mới đâm thêm dưới ánh xuân nhiệt đới. Rồi nội dung của sách báo là những luồng ánh sáng tràn vào rực rỡ các nhà, các hầm của anh chị em. Kể thì hàng ngày Đài Tiếng nói Việt Nam vẫn được lắng nghe rất đều nhưng khi có những dòng chữ của những người thân yêu dù nói điều mình đã biết rồi đi nữa, không hiểu sao trái tim vẫn đập mạnh hồ hởi lạ thường. Bọn tôi tưởng tượng các đồng chí Tiểu ban miền Nam và các Hội phải đi đi về về từ địa điểm sơ tán đến thủ đô để chuẩn bị tổ chức những cuộc triển lãm, lo lắng những việc in ấn, rộn rịp trao đổi những phướng hướng sáng tác, nhận xét tác phẩm… Chắc chắn họa sĩ Diệp Minh Châu, Mai Văn Hiến, Nguyễn Đỗ Cung, Huỳnh Văn Gấm…đã lo dán từng tranh treo từng khung sao cho có ánh sáng, sao cho trang trọng. Chắc Diệp Minh Châu đã đỏ mắt gầy người trong những đêm thức nặn tượng Bác Tư Trang, chắc các đồng chí ban nghiên cứu nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam, Nhà xuất bản, các nhà hát…đã nhiều lần vượt bom đạn dọc đường để về lo đủ tài liệu triển lãm, và cả anh chị em ở 51 Trần Hưng Đạo phải bắc ghế đóng đinh treo khẩu hiệu và nấu trà thật ngon nhiều lần để chuẩn bị hội nghị tọa đàm và cả để truy điệu bác Tư. Và anh chị em hình dung dáng đi giọng nói của anh Bảo Định Giang đang chạy đi chạy lại đấu tranh xin thêm vài trăm dự trù cho chu đáo, vận động thêm vài cuộc biểu diễn cho càng rộn rã, và Hồ Thắm, với nhiệt độ thời tiết 5 độ, làm đôi chân tê thấp sưng mọng, nhưng vẫn giữ nhiệt tình cao trong trái tim đối với tác phẩm miền Nam. Những hình ảnh ấy chỉ tưởng tượng thôi, nhưng ai nấy đều chắc chắn là có thật, và sự thật có lẽ còn rộn rịp và gian khổ hơn nhiều. Vừa rồi lại có điện của đồng chí Ban Tuyên giáo Trung ương thăm hỏi, anh chị em càng cảm động. Địch có càn quét bao nhiêu, anh chị em vẫn vững và càng vững hơn khi có lời hỏi thăm từ miền Bắc yêu quý, đem thêm tình nồng thắm vào khi có sách báo miền Bắc đem thêm sức lực, tiếp thêm máu tươi cho anh chị em. Bài thơ của bác Hồ là một nguồn sinh lực vô tận cho anh chị em trong này. Không hẹn mà nên, các em n