Ngày Mùa - Văn Cao

Lúa lúa vàng, đồng lúa bát ngát trời. Bao tay liềm từng nhánh lúa thơm rơi.

Đã hơn nửa thế kỷ từ khi bài hát “Ngày mùa” ra đời. Mỗi khi nghe lại, lòng ta vẫn nao nao nhớ về vùng quê nơi ta sinh ra, lớn lên, cất giấu tuổi thơ êm đềm. Ở nông thôn Việt Nam, những ngày mùa gặt hái với những bông lúa vàng trĩu hạt được người nông dân quẩy từ cánh đồng về nhà, mang nặng nghĩa tình của người dân quê một nắng hai sương; là cảnh sắc tiêu biểu nhất. Bởi đó là biểu tượng của ấm no, hạnh phúc của họ. Cảm nhận điều đó, nhạc sĩ Văn Cao đã viết “Ngày mùa”. Tác phẩm này trở thành một trong những bài hát hay nhất trong số những bài hát viết về nông thôn Việt Nam.            Nói đến Văn Cao, nói đến âm nhạc kháng chiến chống thực dân Pháp, đến những tác phẩm viết về nông thôn, không thể không nhắc đến “Ngày mùa”. Điều đặc biệt là tác giả nói đến ngày mùa, đến nông thôn trong kháng chiến nhưng tuyệt nhiên không có khói lửa, đạn bom, không có đùng đoàng súng đạn và máu đổ, xương phơi, không là những “nhà cháy, cây héo khô, nhà thiêu nền trơ đất…”. Bởi cái không gian nông thôn mà Văn Cao nói đến có lẽ ở vùng tự do chỉ là một phần mà cái chính là nông thôn Việt Nam dẫu trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn êm ả thanh bình như vốn dĩ vẫn vậy. Và người nông thôn chỉ quen với cuộc sống phẳng lặng gắn với đồng ruộng, con mương. Đúng vậy, “Ngày mùa” đã mở đầu bằng những lời lẽ bình dị diễn tả một vùng khá bình yên: “Ngày mùa vui thôn trang, cũng như trên cánh đồng. Lúa không lo giặc về, khi mùa vàng thôn quê. Ngày vui trong thôn xóm, đầy đồng giáo với gươm”. Đường nét âm nhạc thì bình ổn, phẳng lặng nhưng những từ “giặc”“giáo, gươm” đã cho ta thấy bối cảnh mà bài hát đề cập. Có lẽ “giáo với gươm” ở đây là những vũ khí thô sơ được người nông dân mang theo để tự vệ, đề phòng có bất trắc khi “giặc về”, trong đó là một vùng tự do không thuộc quyền kiểm soát của địch. Công việc đồng áng của nhà nông luôn nặng nhọc, vất vả nhưng hơn ai hết, người nông dân luôn mang trong mình những đặc điểm tiêu biểu nhất của người Việt Nam. Một trong những nét tính cách đó là trong sáng, lạc quan. Dẫu trong bất cứ hoàn cảnh nào, họ cũng vẫn vui, không bao giờ bi quan, tuyệt vọng. Trong “Ngày mùa”, có những chi tiết thể hiện đặc điểm này. “Súng tì tay anh hát. Em ngừng liềm trông sang”. Chàng du kích gặt lúa trong phút giải lao đã cất tiếng hát, nhưng súng luôn “tì tay”, tức là không bao giờ rời súng. Đó là yêu cầu nghiêm ngặt đối với thời chiến. “Em ngừng liềm trông sang” để vừa nghe, vừa nhìn anh hát - một không khí thật trữ tình trong những khoảnh khắc nghỉ ngơi. Càng lãng mạn hơn khi ở cuối bài xuất hiện hình ảnh: “Ngày vui quân du kích đứng im trông lúa rập rờn. Người người vui gánh lúa. Nón nghiêng nghiêng cười ai”. “Ngày mùa” là bức tranh đẹp về nông thôn trong kháng chiến nhưng ở vùng tự do. Những người dân quê vui vẻ, lạc quan thanh thản gắn bó với ruộng đồng, làm ra những mùa vàng bội thu để phục vụ kháng chiến. Chỉ một vài chi tiết nhỏ, được lướt qua cho ta thấy cuộc kháng chiến này đã ẩn khuất đi ở bên trong một ca khúc có giai điệu nhẹ nhàng, mềm mại. Tác phẩm “Ngày mùa” tỏ rõ Văn Cao rất “hiện đại”, rất “mô-đen” mà cũng rất dân tộc. Càng đặc biệt khi rất nhiều bán âm trong “Ngày mùa” được ông xử lý rất khéo nên đã không gây ra cảm giác “Tây” mà vẫn rất Việt. Có lẽ do cái hồn Việt đã thẩm thấu rõ nét trong ca khúc này. Từ khi bài hát ra đời, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng mỗi khi nghe lại, lòng ta vẫn nao nao nhớ về vùng quê - nơi ta sinh ra, lớn lên, rồi cất giấu tuổi thơ êm đềm. Toàn quốc kháng chiến, Văn Cao và người yêu tản cư về vùng Ba Thá, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) và tổ chức đám cưới. Có một buổi chiều, sau khi đi họp về, Văn Cao đi dọc triền đê và nghe tiếng chuông nhà thờ binh boong, binh boong... Ngay lập tức cái nhịp chuông ấy, cái giai điệu chuông ấy đã xoáy cuộn trong tâm hồn nhạc sĩ và tự nhiên hồn vía thôn làng Việt lại được tuôn trào ra sang trọng trong nhịp valse cung đình châu Âu. Đó là điều kỳ lạ nhất mà các nhạc sĩ Việt Nam thời kỳ đầu tân nhạc trong đó có Văn Cao đã làm được. Họ đã "thôn làng hóa" cái nhịp điệu "quý tộc" này, khiến nó trở nên dung dị và chân thành: "Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung/Đời đang vui đồng quê yêu dấu, bóng cau với con thuyền một dòng sông…" Nhưng ngay trong sự dung dị và chân thành ấy, còn chứa đựng âm hưởng tráng ca của những thôn làng kháng chiến: “Chiều khi quân ác qua làng vắng tiếng chuông ngân/ Tiếng chuông nhà thờ rung/Làng tôi theo đoàn quân du kích, cướp lấy súng quân thù trả thù xưa…" Bài "Làng tôi" sau khi ra đời đã trở thành bài hát của người Việt Nam từ đó đến nay và mãi mãi. Trong tác phẩm "Trường ca sông Lô", Văn Cao đã tái hiện nét nhạc "Làng tôi" ở đoạn kết: "Dòng sông Lô trôi- Dòng sông Lô trôi". Cũng ngay từ ngày kháng chiến, "Làng tôi" đã được dịch ra tiếng Nga và một số ngôn ngữ khác. Năm 1982, Văn Cao với tư cách là tác giả "Quốc ca Việt Nam" sang thăm Cộng hòa dân chủ Đức, trong một chiều đến thăm một thôn làng Đức, cũng trong tiếng chuông nhà thờ binh boong, Văn Cao nghe vẳng xa một tốp thôn nữ hát "Làng tôi" bằng tiếng Đức. Tác giả đã chợt rưng rưng nước mắt vì cảm động, vì không ngờ tới sự bay xa trên hành tinh của bài hát này. Cùng với "Làng tôi" cũng với nhịp valse, Văn Cao còn vẽ ra một bức tranh âm thanh về một ngày mùa thời kháng chiến vừa lãng mạn vừa cao diệu quá "Ngày mùa": “Ngày mùa vui thôn trang/Lúa reo như hát mừng/Lúa không lo giặc về khi mùa vàng thôn quê/Ngày mùa vui thôn xóm/Đầy đồng giáo với gươm/Súng tỳ tay anh đứng, em cầm liềm trông sang”. Sức sống, sức thuyết phục của "Làng tôi" "Ngày mùa" đã khiến cho hai bài hát trên đã được nhiều người yêu thích và bình chọn vào 20 bài hát hay nhất viết về nông thôn Việt Nam trong cuộc bình chọn do Bộ NN&PTNT khởi xướng nhân kỷ niệm 65 năm thành lập Bộ Canh Nông. “Ngày mùa”, “Làng tôi” mang màu sắc chiến tranh nhưng cũng mang đậm màu sắc trữ tình và khát khao hoà bình, tình yêu cuộc sống của mọi người. Giai điệu đẹp đến nỗi mỗi khi cất lên, người ta biết ngay là nét nhạc của Văn Cao khắc hoạ làng quê Việt Nam thời bấy giờ.

Tư liệu khác

Bình luận (0)