Đồng khởi Bến Tre.

(Tượng đài Đồng khởi)

Những tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam và người dân Lương Hòa, Bến Tre không ai có thể quên thời điểm tháng 1/1960, khi cuộc Đồng khởi Bến Tre chấn động thế giới mà bà Ba Định là người chỉ đạo trực tiếp cuộc khởi nghĩa thắng lợi của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) vào đêm 17/1/1960, mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và trong toàn miền Nam. Nhiều người nhớ lại, lúc đó quân giặc đang rất mạnh, đồn bót giăng giăng, quân số đông, được trang bị vũ khí hiện đại tối tân thì những người quyết định làm cuộc Đồng Khởi chỉ có trong tay không đầy 20 chi bộ với 200 đảng viên và 4 khẩu súng hư, mỗi khẩu còn chưa tới 10 viên đạn và không ai dám chắc súng còn bắn được hay không.

Tại cuộc họp để quyết định Đồng khởi, bà Ba Định nói chắc nịch: “Nếu làm sai, xin chịu kỷ luật trước Tỉnh ủy Bến Tre và Khu ủy khu 8”. Sau đó bà Ba Định cho người tung tin: tham gia Đồng khởi có tiểu đoàn chủ lực 502 Đồng Tháp với đầy đủ súng đạn và rất nhiều bộ đội miền Bắc chi viện. Để địch hoang mang, bà Ba Định cho nhiều thanh niên học nói giọng miền Bắc, đẽo cây, bập dừa nước làm thành súng giả, hành quân lũ lượt khắp nơi, chuyện trò vang trời để đánh động mạng lưới thám báo của địch.

Dáng đứng Bến Tre - (Nguyễn Văn Tý) - Ngọc Yến

Mặt khác, bà Ba Định chỉ đạo các địa phương chọn những thanh niên trung kiên, giỏi võ nghệ lập ra những tổ hành động, trang bị dao, mác, mã tấu tự tạo làm vũ khí và tìm nơi sửa 4 khẩu súng hư để làm vốn, phòng khi phải nổ súng thật hù dọa địch quân. Chỉ với lực lượng như vậy, dưới sự chỉ huy của bà Ba Định, ngay trong ngày 17/1/1960 lực lượng Đồng Khởi đã đánh thắng hai trận giòn giã và mở rộng phong trào Đồng Khởi khắp nơi.

Cũng từ cuộc Đồng khởi tháng 1/1960, một lực lượng đấu tranh mới được bà Ba Định “khai sinh” trong cuộc chiến một mất một còn: quân giặc gọi là “đội quân đầu tóc”, còn chủ tịch Hồ Chí Minh lúc bấy giờ trìu mến gọi là “đội quân tóc dài”. Những bậc bô lão ở Bến Tre kể về việc hình thành “đội quân tóc dài” như sau: Sau khi Đồng khởi thắng lợi thì quân địch tập trung quân phản kích quyết liệt, càn quét khắp nơi và tuyên bố sẽ làm cỏ hết Việt cộng ở Bến Tre.

(Đội quân tóc dài năm xưa)

Sau cuộc Đồng khởi nổ ra trong tỉnh đúng 10 hôm, ngày 26-1-1960, địch huy động nhiều đơn vị vũ trang gồm cả quân chủ lực và bảo an hơn một vạn tên địch đánh vào ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Chiến dịch khủng bố này lấy tên là "Bình trị Kiến Hòa" với mục tiêu nhằm đè bẹp phong trào cách mạng quần chúng và tiêu diệt LLVT của ta đang còn trứng nước. Đi đến đâu, chúng triệt phá nhà cửa, cướp bóc, bắn giết một cách tàn bạo. Để đối phó lại âm mưu của địch, Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó chủ trương tập hợp lực lượng, tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị gồm toàn chị em phụ nữ kéo lên quận Mỏ Cày với danh nghĩa là "tản cư” để tránh cuộc hành quân càn quét đang diễn ra. Lực lượng tham gia đấu tranh lên đến 5.000 người. Các chị, các má, người thì khiêng kẻ bị thương, người thì chở xác chết, mang theo mảnh bom, mảnh đạn để làm tang chứng, lớp thì bồng con, bế cái với cả mùng mền, nồi niêu để nấu ăn. Lực lượng đấu tranh trên 200 ghe xuồng từ các ngã đổ về Mỏ Cày rồi lên bộ kéo đi chật các đường phố của thị trấn. Bà con tràn vào dinh quận trưởng, nhà thông tin, thánh thất, nhà thờ, vừa kêu khóc, tố cáo tội ác của giặc, vừa yêu cầu quận trưởng ra lệnh chạy chữa những người bị thương, cung cấp thuốc men, thực phẩm, gạo thóc cho đồng bào và ra lệnh rút quân để bà con có thể trở về yên ổn làm ăn. cảnh hàng ngàn người già, phụ nữ, trẻ em nheo nhóc, ăn ngủ vạ vật khắp các nơi, đồng bào trong thị trấn vô cùng cảm động. Họ mang cơm nước, thuốc men, tiền bạc giúp đỡ. Nhiều vị tu hành, nhân sĩ kêu gọi lạc quyên ủng hộ bà con "tản cư". Công chức, binh lính, cảnh sát nhiều người tỏ thái độ đồng tình việc làm của đồng bào.

(Bà Nguyễn Thị Định cùng các Đ/C Lãnh đạoTƯ Miền)

Ngày 27/2/1960, bà Ba Định chỉ đạo các địa phương Bình Khánh, Phước Hiệp, Định Thủy (huyện Mỏ cày) huy động hàng ngàn phụ nữ bồng trẻ con, mang theo mùng màn, quần áo, giẻ rách ngồi trên mấy trăm chiếc xuồng bơi kín mặt sông ra thị trấn Mỏ Cày, đòi bọn giặc chấm dứt càn quét, bắn giết và bồi thường nhân mạng. “Đội quân tóc dài” giằng co với giặc suốt 12 ngày đêm khiến bọn này ngao ngán, nản chí phải chấp nhận yêu sách của những người phụ nữ. Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã thêm một minh chứng sinh động về sự sáng tạo của đường lối đấu tranh “hai chân, ba mũi” - chính trị kết hợp với võ trang và binh vận - mà về sau đã trở thành phương châm chỉ đạo chiến lược cho cao trào Đồng khởi của toàn miền Nam. Về phía địch, sau thất bại chua cay này, chúng càng dùng nhiều thủ đoạn đối phó phong trào đấu tranh một cách thâm độc và quyết liệt hơn. Để phá những cuộc biểu tình của "đội quân tóc dài", chúng cho bọn tay sai ác ôn dùng sơn viết khẩu hiệu "Đả đảo cộng sản” lên nón đang đội, chị em ném nón, đội khăn hoặc để đầu trần. Chúng viết sơn lên áo chị em cởi áo ngoài, chỉ còn áo lót bên trong. Rút kinh nghiệm, các lần sau hễ đi đấu tranh thì họ mặc nhiều áo và khoác bên ngoài thêm chiếc áo rách. Thấy không hiệu quả, chúng xoay sang dùng kéo xông vào cắt mái tóc dài của chị em. Hành động này đã bị binh sĩ ngụy phản đối vì trong hàng ngũ đấu tranh có nhiều người là vợ, là chị, là em của lính địch. Chúng đành phải bỏ trò cắt tóc, chuyển sang hành động dùng dây thép gai vây lại, bắt chị em đem ngâm nước, dang nắng, tệ hơn chúng cởi quần áo làm nhục chị em. Nhiều người phẫn nộ không ngần ngại tụt quần trườn mặt những tên ác ôn mặt dày mày dạn làm chúng phải cúi mặt bỏ đi.

“ba mũi giáp công”

Rút kinh nghiệm, khi đi đấu tranh, chị em không mặc quần dây thun, mà dùng quần dây lưng rút, hoặc gài nút. Bọn chỉ huy còn ra lệnh cho những tên ác ôn dùng thủ đoạn cưỡng hiếp chị em nữ thanh niên để trấn áp, hòng làm cho các chị không còn dám tham gia vào các cuộc đấu tranh. Thế nhưng càng đàn áp dã man, trắng trợn thì phong trào càng quyết liệt, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của chúng bị bóc trần thảm hại. Tâm lý hoang mang, dao động của đám tay sai, đặc biệt trong binh lính, ngày càng tăng trước sức mạnh của chính nghĩa. Trong khi đó “đội quân tóc dài" trong quá trình đối mặt với kẻ thù, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo, về vận dụng sách lược, lý lẽ để tiến công kẻ địch, phân hóa hàng ngũ của chúng, biết giành thắng lợi từng bước, đúng lúc, đúng mức. Lúc bình thường, những người phụ nữ ấy gắn bó với thôn xóm, ruộng đồng, thay chồng nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già, dạy dỗ con cái nuôi giấu cán bộ. Họ có mặt hầu hết trong các công tác cách mạng ở hậu phương, xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia du kích bảo vệ làng mạc, đi dân công tải thương, tải đạn, giao liên... Lúc có giặc càn vào thôn, xóm, họ là lực lượng đứng ra đấu tranh ngăn chặn bước tiến của chúng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.

(Sức mạnh của phong trào Đồng Khởi năm xưa)

Vũ khí đấu tranh của họ không phải là súng, đạn, mà chủ yếu là lòng yêu nước, là ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, là lý lẽ được vận dụng một cách thông minh, khôn khéo trong cái thế hợp pháp. Họ vận dụng “ba mũi giáp công” đánh vào những chỗ yếu, những sơ hở của đối phương, phân hóa hàng ngũ chúng, ngăn chặn, phá vỡ những ý đồ đen tối và thâm độc của Mỹ, ngụy. Không hiếm những trường hợp với tay không và bằng mưu trí họ đã hạ được đồn bót giặc, hoặc vô hiệu hóa từng đơn vị chiến đấu của địch. Nhiều tên ác ôn bị chính những người phụ nữ hiền lành diệt giữa ban ngày ở ngay trên đường phố, hoặc ở nơi chợ búa đông người. Nội dung và hình thức đấu tranh cũng như việc tổ chức đội ngũ của “đội quân tóc dài” luôn luôn thay đổi, biến hóa linh hoạt và sáng tạo để thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể. Cách thức hoạt động của họ chưa hề được ghi trong một “binh thư” nào từ trước đến nay. Ra đời trong cao trào Đồng khởi ở Bến Tre, “đội quân tóc dài” đã phát triển rộng khắp trong toàn miền và đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước bất khuất, trung hậu đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.

  (Đồng khởi Bến Tre 1960)

Từ đó, “đội quân tóc dài” trở thành một lực lượng đấu tranh chính trị rất có hiệu quả không chỉ riêng ở Bến Tre mà còn phát triển rộng trên toàn miền Nam và danh tiếng của “đội quân tóc dài” gắn liền với tên tuổi của bà Ba Định.
Ngày 2/9/1960 trong nỗi nhớ con trai cồn cào, bà Ba Định viết thư gửi ra Bắc thăm con, bởi cháu On ra Bắc đã 6 năm mà bà chỉ nhận được thư và ảnh của con có một lần duy nhất. Cặm cụi viết xong lá thư chan chứa tình yêu thương của người mẹ nhớ con gửi đi, bà lại tiếp tục đi công tác. Đến tối mịt, khi về đến cơ quan Tỉnh ủy Bến Tre thì bà Ba Định nhận được một bức điện báo tin sét đánh: Cháu On, con của bà đã mất đột ngột vào ngày 4/5/1960 vì bạo bệnh. Cầm bức điện mang những dòng chữ cay nghiệt trên tay, bà Ba Định bàng hoàng. Những người chứng kiến giây phút ấy kể rằng, lúc đó bà Ba Định phải cố gắng hết sức mới có thể đứng vững, không ngã quỵ trước mặt đồng đội, đồng chí. Nhiều người nói, trong giây phút đau thương đó mọi người đều im lặng, không ai dám lên tiếng chia sẻ nỗi đau quá lớn của người mẹ và an ủi bà Ba Định, bởi tất cả đều biết rằng cháu On là tất cả hy vọng đối với bà, là nơi mà kỳ vọng để nhớ tới anh Bích, người chồng liệt sĩ. Nhưng chỉ vài ngày sau, người ta lại thấy bà Ba Định lau nước mắt, nén chặt nỗi đau mất chồng, mất con vào lòng để tiếp tục cùng đồng đội, đồng chí bước vào cuộc chiến đấu gian khổ, quyết liệt và đầy hy sinh mất mát.

  (Đội quân tóc dài lực lượng nòng cốt của phong trào Đồng khởi)

Nén chặt nỗi đau mất con vào lòng, bà Ba Định lao vào công tác. Bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8 vào tháng 5/1961. Sau đó bà Ba Định được điều động giữ chức Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhưng rồi một bước ngoặt của cuộc chiến đã đưa bà Ba Định đến với cuộc đời binh nghiệp, trở thành vị nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1965, đang công tác tại cơ quan Hội Phụ nữ thì bà Ba Định được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mời sang Bộ Tư lệnh Miền để nhận công tác mới. Tại đây, đại tướng Nguyễn Chí Thanh trịnh trọng thông báo: Bác Hồ và Bộ Chính trị đã quyết định điều động bà Ba Định giữ chức vụ Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, chuyên theo dõi chỉ đạo phong trào chiến tranh du kích và đấu tranh chính trị. Những người từng chung chiến hào sát cánh chiến đấu với bà Ba Định năm xưa kể rằng, sau khi nhận trọng trách mới bà luôn tranh thủ từng giờ từng phút rảnh rang để học về nghệ thuật quân sự, nghệ thuật chỉ huy. Tại nơi làm việc của bà lúc nào cũng có một bản đồ không ảnh toàn miền Nam Việt Nam và rất nhiều sách vở, tài liệu quân sự.

“Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Điều đặc biệt của vị nữ Phó Tư lệnh Miền là bà ít khi nào mặc quân phục, mang quân hàm dù bộ phận quân trang chuẩn bị cho bà những bộ quân phục rất đẹp. Trang phục mà vị nữ tướng thường mặc là bộ quần áo bà ba đen, khăn rằn quấn cổ, đấu đội nón lá, nón tai bèo, chân đi dép râu, vai đeo chiếc túi nhỏ mà trong đó luôn có sẵn cây kim, sợi chỉ để vá áo cho bộ đội, miếng sừng tê giác để kịp thời điều trị cho những người không may bị rắn cắn, viên thuốc chống sốt rét, miếng đường thẻ tặng bệnh binh.
Mọi người nói rằng, sau khi chôn chặt nỗi đau mất con vào lòng, nữ tướng Nguyễn Thị Định đã dành trọn tình cảm yêu thương của một người mẹ cho các cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền. Những người từng biết đến thiếu tướng Nguyễn Thị Định đều cho rằng, bà xứng đáng với 8 chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu tặng Phụ nữ Việt Nam: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh  từng nhiều lần nói rằng: "Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị nữ tướng quân như vậy. Thật là vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta". Ngày 30/8/1995, ba năm sau ngày nữ tướng Nguyễn Thị Định đi vào cõi vĩnh hằng, bà đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

(Đền thờ Bà Nguyễn Thị Định ở Lương hòa-Giồng Trôm)

Cố Giáo sư Trần Văn Giàu lúc sinh thời đã từng viết: “Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần". Điều đó đã đúng khi người dân Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Tây đã rước bát hương thờ bà Nguyễn Thị Định về thờ trong khu đền Hai Bà Trưng như một vị nhân thần mới.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Bác Hồ đã nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”. GS Trần Văn Giàu nói: “Những người như chị sống làm tướng, chết thành thần”.

Theo Phunutoday
(Hình ảnh mang tính minh họa)

Bình luận (0)