Tình Bác sáng đời ta - Lưu Hữu Phước

                                                                  

(Nghệ sĩ Diễn viên đoàn VCNDTW
chụp ảnh lưu niệm cùng Bác Hồ)

Chúng tôi rất hay được biểu diễn phục vụ các cấp lãnh đạo cao nhất và các khách quý nước ngoài. Đặc biệt, những năm 1960 của thế kỷ trước là thời điểm thăng hoa của nhà biên đạo Trần Minh và đội múa chúng tôi. Những tác phẩm “Ong vò vẽ”, “Chặng đường biên giới”, “Tay chài vai súng”, “Lựu đạn gỗ”... được biểu diễn liên tiếp ở trong và ngoài nước.       

Chỉ với 13 diễn viên, chúng tôi đã xây dựng thành công kịch múa “Rừng thương nhớ”, nói về gương hy sinh quên mình vì người dân nơi biên cương Tây Bắc của anh hùng Công an nhân dân vũ trang Trần Văn Thọ. Vở kịch múa 3 màn này cùng với những tác phẩm múa ngắn kể trên đã từng làm “chấn động” cả giới nghệ thuật. Cho đến bây giờ, nhiều người trong ngành vẫn còn nhớ về cái thời hoàng kim ấy của đội múa chúng tôi.

Cuối năm 1968, từ một nơi sơ tán khá xa, chúng tôi được lệnh về Hà Nội biểu diễn. Sẩm tối, xe ô tô mới lăn bánh vào khuôn viên Nhà khách Chính phủ. Chúng tôi đang vội vã hóa trang thì lãnh đạo đoàn, với một động thái có phần quan trọng và kín đáo, nhắc nhở mọi người phải chuẩn bị thật chu đáo để biểu diễn một chương trình gọn nhẹ. Đội múa vẫn biểu diễn mấy tác phẩm truyền thống, đội hát góp vào các bài đơn ca, tốp ca và ngâm thơ. Sân khấu là một phần của phòng lớn Nhà khách. Và chúng tôi cũng chỉ được biết đến thế...

                                     

Đoàn Múa Hát Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam

được vinh dự biểu diễn cho Bác Hồ và Bác Tôn,

cùng các đồng chí lãnh đạo trung ương xem

Như mọi khi, các diễn viên vẫn tập trung cao độ cho các tác phẩm nghệ thuật. Nhưng sự cổ vũ của người xem có vẻ không được rầm rộ như mọi lần.

Chúng tôi tò mò đứng trong cánh gà của sàn diễn nhìn ra phía khán giả. Chúng tôi chợt lặng người, Bác Hồ đang chăm chú ngồi xem. Đằng sau Bác có thêm dăm bảy người, chắc là các đồng chí bảo vệ và giúp việc cho Bác. Một lần biểu diễn để riêng Bác Hồ xem! Ôi vinh dự, sung sướng quá, thật là những giờ phút quý hiếm của cuộc đời nghệ thuật!

Thế là, những lúc chưa ra sàn diễn chúng tôi cố tranh thủ hướng ra chỗ Bác ngồi. Người mặc áo bông, quàng chiếc khăn giản dị, vị lãnh tụ anh minh, và là người cha nhân từ ở gần chúng con quá! Bác xem chăm chú và luôn vỗ tay động viên chúng tôi. Buổi diễn cứ xốn xang, rạo rực trôi đi, một đêm diễn không giống một đêm nào khác...

Nhưng rồi chương trình kết thúc khá nhanh gọn. Bác không thể ngồi xem lâu, sức khỏe của Người đâu còn được như xưa, bao việc dân, việc nước vẫn đang trĩu nặng. Người vừa rời phòng xem vừa vẫy tay chào. Chúng tôi vội theo ra tiễn Bác, cũng là muốn được gần Bác thêm chút nữa. Đến cửa, một đồng chí trong đoàn hô to: “Bác Hồ muôn năm!”. Chúng tôi đồng thanh hô theo. Bác dừng lại giây lát rồi Người mỉm cười, bất ngờ đáp lại: “ Các cháu muôn năm!”.

Tất cả chúng tôi lặng đi... vì không thể tưởng tượng lại có được những phút giây huyền diệu đến thế... Giữa niềm hạnh phúc trào lên, đột ngột bỗng trong chúng tôi, có đồng chí reo lên, có người vô tay, có nữ diễn viên rưng rưng nước mắt, trong khi Bác bước nhanh xuống sân đã có xe chờ sẵn. Chúng tôi lại ùa xuống tiễn Bác, cánh cửa xe đã đóng nhưng Bác vẫn vẫy tay đáp lại tình cảm của chúng tôi.

Ngày hôm sau, chúng tôi còn nhận được lẵng hoa của Bác gửi tặng. Bao năm qua, hoa tươi không còn, nhưng chiếc lẵng mây quý báu đó vẫn được bày trang trọng trong phòng truyền thống của Đoàn. Không ai có thể ngờ đấy lại là lần biểu diễn cuối cùng để Bác xem. Năm sau, Bác vĩnh biệt chúng ta, để lại tình thương bao la cho cả dân tộc. Trong cuộc đời nghệ thuật trước đó, tôi đã được mấy lần nữa biểu diễn để Bác xem. Nhưng lần biểu diễn cuối năm 1968 là kỷ niệm không thể nào quên.

                                              

Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với sinh viên

Trường Nghệ thuật sân khấu

Đã gần nửa thế kỷ qua đi, về cuối đời, tôi cũng đã rời quân ngũ, trở lại trường xưa làm công việc giảng dạy. Cuộc sống hôm nay cũng đã khác xưa, nhưng mỗi lần nhớ lại những phút giây thiêng liêng bên Bác năm nào, chúng tôi thấy ấm lòng trở lại và có thêm được một sức mạnh mới để sống tiếp có ý nghĩa hơn. Tình Bác cứ sáng mãi trong suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật của chúng tôi

Trần Đức Viễn

Tháng 9 năm 1969, tại chiến khu miền Đông Nam bộ, trước ngày Tiểu ban Văn nghệ - thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục R tổ chức tưởng niệm Bác Hồ, chúng tôi nhận được nhiệm vụ: dàn dựng một sáng tác mới của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và nhà thơ Diệp Minh Tuyền để hát trong buổi lễ đau thương ấy.

Một nhiệm vụ thường ngày của chúng tôi - những anh chị em diễn viên trong Đoàn Văn công Giải phóng - vậy mà bữa nay sao khó khăn và nặng nề đến thế. Cả một khu rừng căn cứ kháng chiến vốn sôi nổi, rừng rực nhịp sống, giờ bao trùm không khí tĩnh lặng, chúng tôi đã ngưng đàn hát mấy bữa rày không chỉ vì quy định chung mà nỗi mất mát to lớn này khiến mỗi người chỉ có thể lặng yên.

                                                        

Tình Bác sáng đời ta

Buổi dàn tập bắt đầu, nhạc sĩ Phạm Kỳ Lân (Trường Nam) nâng cây đàn ghi ta dạo những hợp âm đầu tiên, chúng tôi nhìn vào nét chữ nắn nót của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước viết tên bài hát: Tình Bác sáng đời ta, rồi chầm chậm hát theo: “Từ trong chiến hào hôm nào nghe tiếng Bác...”. Chỉ hát được một câu, tất cả chúng tôi bật lên khóc nức nở.

Trong nước mắt, chúng tôi hát. Mười anh chị em, người từng được gặp Bác, người chưa một lần, quê đủ mọi nơi nhưng chung một tình cảm nhớ thương Bác vô hạn: Duy Nãi ở Thái Bình, Thế Hưng ở Cần Thơ, Phạm Dũng ở Trà Vinh, Tô Lan Phương ở Hải Hưng, Thúy Hợi - Việt kiều ở Thái Lan, Thu Hằng - Việt kiều ở Campuchia, Thế Hải, ZDư An, Trường Nam, Mai Lâm ở Hà Nội.

Chúng tôi hát bằng tất cả tâm hồn là con cháu của Bác. Chúng tôi hát bằng tất cả cảm xúc dâng trào, bằng tình cảm dạt dào thương Viết lại cảm xúc của những ngày tháng ấy để tự hào là yêu Bác. Những người được vinh dự trình bày lần đầu tiên ca khúc Tình Bác sáng đời ta.

THẾ HẢI

Tấm lòng thương yêu của Bác đối với nhân dân, đối với dân tộc ta thật bao la, rộng lớn. Tấm lòng yêu thương ấy tự bao giờ đã đi vào thơ ca một cách thiết tha trĩu nặng cảm tình như thế, nó đến với từng người, từng nhà như cơm ăn, nước uống hàng ngày.

Năm 1968, tôi lại có dịp ra báo cáo tình hình. Lúc này Bác đang mệt. Lần đó tôi đi cùng đồng chí Trần Độ. Đồng chí Vũ Kỳ (thứ ký của Bác, hôm đó cũng có mặt) báo cho biết là Bác mời cơm tôi và anh Trần Độ. Được Bác mời cơm là một vinh hạnh lớn, nhưng nghe Bác mệt, cả tôi và anh Trần Độ đều hơi ngài ngại.

                                                         

Bác Hồ cùng các Anh hùng Dũng sĩ Miền Nam

Hôm đó, cả tôi, anh Trần Độ và anh Vũ Kỳ cùng ăn với Bác. Tôi thấy Bác ăn rất ngon lành. Bác ăn tới hai bát cơm và bảo anh Kỳ xúc cho thật đầy. Bác vừa ăn vừa bảo mọi người ăn cho hết thức ăn, không để thừa. Tôi và anh Trần Độ thấy vậy mừng quá. Bác đang mệt mà Bác vẫn ăn được.

Sau đó, anh Vũ Kỳ cho biết: Bác cố gắng ăn như thế để các anh về nói lại cho đồng bào miền Nam yên tâm! Bác biết rằng nếu đồng bào và chiến sĩ miền Nam hay tin Bác mệt sẽ lo lắng biết bao nhiêu.

Năm 1969, tôi lại được triệu tập ra Trung ương. Lúc này Bác đã mệt nhiều, khi tôi  được vào thăm thì Bác đã không còn ngồi dậy để tiếp chuyện nữa. Tôi ngồi trên chiếc ghế bên cạnh giường Bác. Bác vẫn còn đang khỏe. Trên bức tường cạnh giường, tôi vẫn thấy như mọi lần có treo sẵn tấm bản đồ miền Nam với các mũi tên chỉ tình hình chiến sự trong những ngày gần nhất. Đồng chí Vũ Kỳ cho biết tuy yếu mệt như vậy nhưng hằng ngày Bác vẫn yêu cầu cán bộ Bộ Tổng tham mưu sang báo cáo về tình hình chiến sự ở miền Nam. Tôi xúc động quá!

Cho đến hôm gần thở hơi cuối cùng, Bác cho mời các đồng chí trong Bộ Chính trị đến bên cạnh. Tôi lúc đó không ở trong Bộ Chính trị nhưng là cán bộ duy nhất ở miền Nam ra, nên Bác cũng cho kêu đến. Bác cố nắm tay từng đồng chí trong Bộ Chính trị và sau đó nắm lấy tay tôi. Khi ấy Bác đã không còn nói được nữa.

                                                   

Bác Hồ cùng Anh hùng Chiến sĩ Thi đua Miền Nam

Nhưng đôi mắt và vẻ mặt của Bác thể hiện một tình cảm thật sâu sắc không bút nào tả xiết. Riêng đối với tôi, tôi hiểu rằng tình cảm của Bác không phải đối với riêng tôi, mà Bác muốn qua cái nắm tay cuối cùng, gởi gắm tấm lòng của Bác đối với đồng bào, chiến sĩ miền Nam trước khi Bác từ biệt cõi đời để theo các cụ Mác, Lênin.

Tấm lòng của nhân dân miền Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Như hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt được hai em đi rải truyền đơn. Nó tra tấn đánh đập dữ dội, nhưng cuối cùng vì hai em tuổi vị thành niên, nó phải thả. Nhưng trước khi thả, nó giở âm mưu xảo quyệt. Trước cửa xà lim nhốt hai em, nó trải hình Bác dưới đất và bảo: "Tụi bây có muốn ra khỏi đây thì phải bước qua tấm hình đó!". Hai cháu quay trở vào chứ không bước qua.

Khi Bác mất, rất nhiều bàn thờ được đặt ra ngay giữa các vùng địch tạm chiếm. Ở viện Bảo tàng Cách mạng, tôi thấy có bức ảnh anh em xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác. Hay như việc lập bàn thờ Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh (Cửu Long), ở xã Viên An (huyện Ngọc Hiển, Minh Hải). Nhiều nhà tri thức công giáo như anh Lý Chánh Trung đã viết bài tỏ lòng thương tiếc Bác đăng trên báo công khai ở Sài Gòn, v.v....

                                                        

Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa do đồng bào Miền Nam gửi tặng

Tôi nói những điều đó để nói lên lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân miền Nam với Bác. Lòng tin yêu, kính trọng đó bắt nguồn từ những chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng mà Bác là Lãnh tụ tối cao, từ những lời chỉ dạy của Bác. Và đó chính là nguồn gốc của sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của chúng ta cho đến ngày nay.

NGUYỄN VĂN LINH Nguyên Tổng Bí thư BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam 

Bình luận (0)