Thơ Tố Hữu trong lời ca của các Nhạc sĩ

                                              

Người yêu thơ ông đã ngã xuống cánh rừng trai trẻ
Người đọc thơ ông thời hoa niên nay đã già. (NKĐ)

Cũng trong hồi ký "Nhớ lại một thời", Tố Hữu đã dành một số trang để nói về phút nên duyên của ông với bà Nguyễn Thị Thanh, người sau này là phu nhân của ông. Có thể nói, như tiền định, họ đã đến với nhau một cách chóng vánh.

Lần đầu tiên đứng nói chuyện riêng với  một người con gái, chàng nhà thơ khi ấy 27 tuổi đã vào thẳng vấn đề: "Tôi rất mến Thanh, không biết ý Thanh thế nào","Ai cũng bảo tôi và Thanh đẹp đôi đấy". Khi nghe người con gái đáp: "Anh liều thật. Lỡ không đồng ý thì sao?", chàng nhà thơ biết là người con gái "tình trong như đã, mặt ngoài còn e", bèn cầm tay cô và nói như kết luận: "Thế là xong nhé. Ta tính ngày cưới đi thôi".

Trong sự nghiệp thi ca của Tố Hữu, bạn đọc rất hiếm gặp những bài... thơ tình. Và phần "ít ỏi" trong đề tài này, ông đều dành tặng vợ. Đó là các bài "Sợ" viết năm 1947 và bài "Mưa rơi" viết năm 1948.

Bài "Mưa rơi" với những câu đầy âu yếm, thể hiện tình cảm của đôi vợ chồng son "Mưa rơi đầm lá cọ/ Mái tóc em ướt rồi/ Đôi má em bừng đỏ/ Muốn hôn quá... mà thôi/ Sợ em mình xấu hổ/ Cầm hai bàn tay nhỏ/ Xa nhau chẳng muốn rời" sau này đã được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ thành một ca khúc khá phổ biến.

                                              

- Nhà thơ Tố Hữu và bà Vũ Thị Thanh. “Người trong mộng”

Như ở phần đầu bài đã nói, với Tố Hữu, nhà phê bình văn học Hoài Thanh là một bạn văn. Thật ra, còn có thể nói thêm: Hoài Thanh chính là người từng được Tố Hữu "giới thiệu tham gia Cách mạng" (như trong một bản lý lịch tự thuật, Hoài Thanh đã khẳng định).

Trong nhìn nhận của Hoài Thanh, Tố Hữu không chỉ là người có vai trò quan trọng trong việc khích lệ, động viên ông đến với Cách mạng, tin vào Cách mạng, mà còn là một nhà thơ lớn của thời đại, sự xuất hiện của thơ Tố Hữu là "một may mắn" với dân tộc ta.

Khi Hoài Thanh còn sống, tất cả các tập thơ được xuất bản của Tố Hữu đều được nhà phê bình cự phách này trân trọng viết bài giới thiệu, bình luận. Trong bản lý lịch tự thuật vừa nhắc tới, Hoài Thanh cũng đã nhận xét mình "đã góp phần phát huy tác dụng của thơ Tố Hữu....".

Ngoài những bài phê bình tiểu luận nói trên, thi thoảng ông còn viết thư trực tiếp gửi Tố Hữu khi ông đảm trách cương vị Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tức Phó Thủ tướng Chính phủ), góp ý không chỉ về chuyện thơ mà còn về các vấn đề quốc kế dân sinh...
Có thể nói, tuy là “Thanh”, song cả ba con người vừa nhắc tới trên, ở những góc độ khác nhau, đều để lại những dấu ấn rất "Đậm" trong cuộc đời của nhà thơ Tố Hữu.
                    

                                                       

Tố Hữu cùng các nhà văn miền Nam Phan Tứ và Trần Ðình Vân

Trong một cuộc hội kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trên thực tế, tình yêu của Tố Hữu có thể nói là rất mê say và lãng mạn. Có lẽ bởi hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và những năm chiến đấu với cái đói nghèo của cả nước sau đó đã khiến cho những câu thơ về tình yêu của ông bị vóng rợp, bị khuất lấp. Thơ tình của ông rõ ràng, hiển nhiên là chịu “lép vế” khi đứng cạnh những vần thơ trữ tình cách mạng của ông. Một Nhớ đồng (1939), một Mưa rơi (1948)… hay một Đêm thu quan họ, Một tiếng đờn... sau này không thể nào lại có thể chiếm chỗ hoặc vượt cao lên được bên những Huế-tháng Tám, Việt Bắc, Bài ca xuân 68, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Hãy nhớ lấy lời tôi,Ta đi tới, Nước non ngàn dặm...

Nhưng khuất lấp không có nghĩa là không có. Trong số những bài thơ tình ít ỏi đã công bố của Tố Hữu, đáng chú ý nhất có lẽ là các bài Sợ (1947), Mưa rơi (1948), Đêm quan họ (1986)... Bài Sợ và Mưa rơi có lẽ được Tố Hữu làm khi đang yêu và viết về một mối tình có thật, mối tình đầu của ông. Trong một hồi ký về Văn nghệ buổi đầu kháng chiến thấy ông nhắc nhiều đến một người con gái mà ông gọi là “bé Xanh”. Ông viết: “... Tôi chào anh (đồng chí Trường Chinh-KV) ra về, lòng vẫn day dứt, bâng khuâng: Làm thế nào để xây dựng một nền văn nghệ kháng chiến? Bụng nghĩ như thế mà chân thì tự nhiên cứ theo đường rừng lần ra trạm liên lạc, xem “bé Xanh” của anh thế nào rồi… hai đứa rủ nhau ra quán ở ngã ba mua mấy nải chuối và “mắc cộc” rồi lại dắt nhau về trạm ăn tối một rá cơm và sắn luộc, một đĩa măng chua và một tô bí đỏ...".

Nhân vật mà Tố Hữu kêu là “bé Xanh” còn được nhà thơ nhắc lại nhiều lần trong hồi ký của mình. Có một đoạn ông viết: “Một buổi chiều, sắp chạng vạng, một đoàn cán bộ nữ, ba lô oằn lưng, lếch thếch qua chân đồi, nơi chúng tôi đang hóng gió. Tôi chạy xuống bờ đường xem có ai quen. Trời phật ơi! Em của anh!. Em đang lúc cúc đi, tóc xõa trên trán, trên má đỏ bừng mồ hôi, ướt đầm áo nâu. Mừng quá liền túm lấy tay em, làm em hơi hoảng, ai lại túm lấy nhau giữa đoàn chị em thế này” có lẽ sau này đã được viết thành bài Mưa rơi với những câu:

Mưa rơi đầm lá cọ

Mái tóc em ướt rồi

Đôi má em bừng đỏ

Muốn hôn quá... mà thôi

Sợ em mìmh xấu hổ

Cầm hai bàn tay nhỏ

Xa nhau chẳng muốn rời…

Bài thơ nói về một cuộc gặp gỡ rồi chia xa, nói về một tình yêu trong kháng chiến ấy sau này đã được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc thành bài hát. Đây là một bài tình ca hay nhất trong số những ca khúc của Trần Hoàn. Và Mưa rơi trở thành một trong những bài hát được nhiều người ưa thích nhất trong nhiều thập niên qua.

Viết về “bé Xanh”, về mối tình say đắm ngoài bài Mưa rơi, Tố Hữu còn có bài Sợ. Đây cũng là một bài thơ tình đáng chú ý của ông. Bài thơ chỉ có bốn câu nhưng nói được cái say mê, nồng thắm của tình yêu: Sợ tiếng gà gáy sáng, cũng là nỗi sợ phải xa nhau, mong ước được bên nhau mãi mãi:                                                               

                                  

Viết bài Mưa rơi và bài Sợ vào những năm đầu của cuộc Kháng chiến chống Pháp, ngày ấy Tố Hữu mới 27 tuổi... Và khi ông đã ra người thiên cổ, đọc lại tập Một tiếng đờn cùng những bài thơ lẻ in rải rác trên các báo thêm hiểu rằng, Tố Hữu không hề xa lạ, không hề “dị ứng” với thơ tình. Những miền thơ của ông trước đây bị khuất lấp, bị vóng rợp nay người đời đã có điều kiện để nhìn ra. Dẫu không nhiều, dẫu chỉ là “Một tiếng đờn” như ông viết.

Nhà thơ Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920 tại làng Phù Lai, gần cố đô Huế. Tố Hữu đến với thi ca khá sớm, từ năm 18 tuổi. Cùng năm đó, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 4/1939, ông bị quân Pháp bắt. Tháng 3/1942, ông vượt ngục Đác Glây, tiếp tục hoạt động cách mạng ở Thanh Hóa. Cách mạng tháng Tám, Tố Hữu làm Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Huế.

Năm 1946, tập thơ đầu tay Từ ấy ra đời, tập hợp các tác phẩm viết từ 1937 đến 1946, chia làm ba phần Máu lửa (27 bài), Xiềng xích (30 bài) và Giải phóng (14 bài). Ba phần thơ là ba chặng hoạt động cách mạng của Tố Hữu. Chặng đầu là cái nhìn hiện thực, tố cáo xã hội đương thời, gắn với lòng say mê lý tưởng xóa áp bức bất công, xây dựng cuộc sống hạnh phúc, nhân ái. Chặng thứ hai là thơ trong tù, với những bài thơ xuất sắc của một tâm hồn chiến sĩ đa cảm. Chặng cuối là thơ vận động cách mạng tiến tới khởi nghĩa và cách mạng thành công - những bài thơ say đắm, sôi sục và hào hùng. Với Từ ấy, Tố Hữu lấy lại lòng tin vào đường lối văn học cách mạng cho cả nhà văn lẫn bạn đọc, khẳng định phẩm chất thẩm mỹ mới của thơ Việt Nam.

                                                                   

(Nhà thơ Tố Hữu cùng Bác Hồ về thăm PacBó-1961)

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, thơ Tố Hữu với các bài Phá đường, Bầm ơi... cùng với thơ ca của phong trào quần chúng đã trở thành một gợi ý có sức thuyết phục về phương pháp sáng tác hiện thực - lấy cuộc sống thực tế làm cốt lõi của thơ, hướng cảm xúc của công chúng vào những tình cảm cao cả đánh giặc cứu nước. Tập thơ Việt Bắc là tiếng hát của toàn dân kháng chiến. Với lời thơ bình dị, Tố Hữu đã đi từ tâm tình cá thể đến tâm tình của cộng đồng, phát hiện và biểu dương những tình cảm cao cả. Từ Việt Bắc, hình ảnh người dân yêu nước được khắc họa và trở thành biểu tượng mỹ học cho một giai đoạn thơ ca.

Năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, những kế hoạch 5 năm xây dựng đất nước được triển khai. Tập thơ Gió lộng thể hiện nỗi niềm phấn chấn của người xây dựng đất nước: "Gió lộng đường khơi rộng đất trời". Thời kỳ này, thơ Tố Hữu cũng lộng gió, đó là gió của tâm hồn với Em ơi Ba Lan, Mẹ Tơm, Người con gái Việt Nam, Tiếng chổi tre...

Ra trận là tập thơ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đề tài mở rộng như đánh dấu những sự kiện chính trị, quân sự của đất nước, trong đó có Lá thư Bến Tre, có lời dặn của anh Trỗi, có kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du, có nước mắt khóc Hồ Chủ Tịch... Mỗi bài thơ cho thấy Tố Hữu có khuynh hướng khái quát thời đại. Ông hướng tới những tình cảm phổ quát, cộng hưởng được với lòng người. Đề tài trong thơ ông rất thời sự mà ý thơ thấm thía, sâu, bền.

                                                        

Tập thơ gần đây nhất của Tố Hữu là Một tiếng đàn. Ông vẫn thủy chung với nguồn đề tài của đời sống cách mạng, của toàn đất nước. Đôi khi tưởng chạm tới một điều gì riêng tư của tuổi cuối đời nhìn lại: "Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn". Ở tập thơ này, Tố Hữu trở về bút pháp nội tâm, rất gần với thời kỳ Từ ấy. Có một sự đấu tranh nội tâm rất mạnh: "Mới bảy mươi sao đã gọi là già". Bút pháp không tung hoành hào sảng mà trầm xuống trong chiêm nghiệm. Trong cái bình đạm của giọng thơ, có sức rắn lại của ý chí: "Ta lại đi, như từ ấy ra đi /Lòng hăm hở tưởng như mình trẻ lại".

Theo Phạm Nhật Linh

Kiến Văn

Bình luận (0)