Nhạc sĩ Thái Cơ

Ê ! Bềnh bồng bềnh bồng bè ai nhẹ lướt ớ ơ Hơ hơ hơ ơ hơ qua bến bến Đò Quan Dô khoan dô khoan mà lắng nghe sóng nước âm vang tình người

Mỗi lần nghĩ về sự được - mất của con người trên thế gian này, không hiểu sao tôi lại hay nghĩ tới trường hợp của nhạc sĩ Thái Cơ, tác giả những ca khúc nổi tiếng "Rặng trâm bầu", "Qua bến đò Quan", "Khi thành phố lên đèn"... từng được phát với tần suất lớn trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam nhiều chục năm qua.

"Rằng tài nên trọng, mà tình nên thương", với tôi, Thái Cơ là một nhạc sĩ tài hoa nhưng cũng nhiều bất hạnh. Âm nhạc của ông luôn hướng con người tới một cuộc sống khoáng đạt, với những ước vọng lớn lao, trong khi nghịch lý thay, những năm cuối đời, ông lại bị số phận "cầm tù" trong một cõi riêng u mê đầy kịch tính...

Thời còn công tác ở Hội Văn nghệ Hà Nội, dường như tuần nào tôi cũng có dịp mạn đàm với nhạc sĩ Thái Cơ. Bấy giờ, với cương vị Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ (kiêm Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội), ông thường có mặt ở đây để giải quyết một số vụ việc.

                    

Bến nước quê tôi ai qua rồi chẳng nhớ
Nhớ tiếng còi tầm xôn xang trong lòng người thợ
Niềm vui rộng mở hòa cùng máy sợi máy tơ
Dệt trọn ước mơ của người chiến sĩ năm xưa

Thú thật, phải mất một thời gian khá dài tôi mới biết ông chính là cha đẻ của "Rặng trâm bầu", "Qua bến đò Quan"... Đã đành, thính giả thường chỉ nhớ lời bài hát chứ ít nhớ tên tác giả, song cũng còn tại Thái Cơ vốn dĩ là người... kiệm lời. Ông có thể hồ hởi hỏi thăm tình hình vợ con tôi, và đãng trí hỏi thăm nhiều lần, với cùng một câu hỏi, một nội dung, song với chuyện riêng của mình, trong đó có chuyện sáng tác, ông không tự bộc bạch bao giờ.

Vả chăng, nhiều lúc tôi cứ ngờ ngợ cái ông "pa pa" được tiếng lành hiền, "tốt bụng" (hiểu theo cả nghĩa đen, nghĩa bóng) này, với những bài hát nồng nàn, mê đắm cứ bay lượn suốt trong lòng người mấy chục năm qua, liệu có gì "gần gũi" nhau đây? Ngoài đời, nhạc sĩ Thái Cơ không phải người có dáng điệu hoạt bát, nói năng trôi chảy.

Thậm chí, ông khá vụng về, lập bập trong đi đứng, nói năng. Và cách thể hiện tình cảm thì rất thật thà, hồn nhiên. Tôi nhớ, bấy giờ có một cuộc "vận động" các ủy viên Ban chấp hành Hội ký đơn đòi phế truất đồng chí Chủ tịch Hội, và trong lá đơn này có cả chữ ký của nhạc sĩ Thái Cơ.

Đồng chí Chủ tịch Hội biết chuyện, rất giận. Song riêng trường hợp Thái Cơ thì ông lại nhẹ nhàng "bỏ qua" vì theo ông thổ lộ, Thái Cơ là người "không có tâm địa gì", chẳng qua vì "nhẹ dạ cả tin" nên dễ bị "kích động" đó thôi. Thân gần với nhạc sĩ Thái Cơ, tôi thấy nhận xét ấy quả là "thấu tình đạt lý".

                                                               

Nhạc sĩ Thái Cơ tên thật là Đầu Vũ Như, sinh năm 1934 tại xã Tây Tiến, huyện Tiền Hải, Thái Bình. Là người ngay từ nhỏ đã say mê các làn điệu dân ca, các điệu hò, điệu lý, sa mạc, bồng mạc, và từng tham gia hoạt động văn nghệ từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, song phải tới năm 1958, khi chuyển về làm công tác tuyên huấn ở Nhà máy Gỗ Cầu Đuống, Thái Cơ mới có sáng tác đầu tiên và ngay lập tức, ca khúc này ("Tiếng còi thi đua") đoạt giải nhì của Hội Nhạc sĩ Việt Nam, giải nhất Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội.

Đến năm 1972, khi ca khúc "Rặng trâm bầu", rồi tiếp đó, ca khúc "Qua bến đò Quan", ca khúc "Khi thành phố lên đèn" nối nhau ra đời, thì tên tuổi Thái Cơ và nhạc phẩm của ông thật sự truyền lan rộng khắp.

Giới âm nhạc Việt Nam từng lưu truyền những câu chuyện vừa vui, vừa lạ về các nhạc sĩ: Khi sáng tác ca khúc "Hoa sữa", nhạc sĩ Hồng Đăng chưa hề biết loài hoa này có hình dạng như thế nào.

Cũng vậy, khi sáng tác ca khúc "Giữa mùa hái sa nhân", ông còn nhận được một lá thư gửi đến từ một nông trường, với lời góp ý: "Thưa ông nhạc sĩ, chúng tôi chỉ nhặt sa nhân chứ không bao giờ hái, vì cứ đến mùa thì sa nhân rụng xuống".

Với nhạc sĩ Thái Cơ cũng xảy hiện tượng tương tự: Khi tác giả sáng tác "Rặng trâm bầu", ông chưa hề nhìn thấy tận mắt một rặng trâm bầu nào, và khi sáng tác "Qua bến đò Quan" ông cũng chưa một lần đặt chân tới bến đò Quan. Vậy mà đó lại là những tác phẩm rất thành công. Có lẽ đây là nghịch lý trong sáng tạo chăng?

                                               

"Rặng trâm bầu"

Về xuất xứ của ca khúc "Rặng trâm bầu", tác giả có lần kể với tôi: "Đã từ lâu, hình ảnh cây trâm bầu của miền Nam yêu dấu từng in đậm trong tâm trí tôi, đặc biệt là khi tôi được biết Bác Hồ từng xúc động khi Người nghe những chiến sĩ miền Nam kể lại những tháng ngày chịu đựng gian khổ cùng đồng đội sống trong những căn hầm sâu kín, dưới bóng những cây trâm bầu để chờ lệnh giết giặc, trả thù cho đồng bào, đồng chí đã hy sinh. Đó chính là nguồn cảm xúc mạnh mẽ thôi thúc tôi sáng tác bài hát".

Chính vì nghe kể mà xúc cảm sáng tạo, nên trong nhạc phẩm "Rặng trâm bầu" đã xảy ra một số nhầm lẫn nho nhỏ. Chẳng là, năm 1993, nhân chuyến đi công tác miền Nam, nhà báo Lê Xuân Sơn (hiện là Phó Tổng biên tập Báo Tiền phong) vì là người rất yêu thích bài hát này nên khi xuống làm việc ở đồng bằng sông Cửu Long đã sục sạo tìm hỏi và mang về bằng được cho tác giả "Rặng trâm bầu" một nhánh trâm bầu.

Thì ra lá trâm bầu không "xanh thắm" (uống nước nước dòng sông cây xanh thắm một màu - lời bài hát) như ông nhạc sĩ tưởng. Và trâm bầu cũng không "bát ngát xa trông những rặng trâm bầu" như trong bài hát tác giả đã nhìn ra thế ấy. Tuy nhiên, những điều ấy hầu như không hề gây "cản trở" nào, dù là rất nhỏ trong việc công chúng yêu mến và tiếp nhận bài hát này. Sinh thời, tác giả ca khúc "Rặng trâm bầu" đã nhận được hàng nghìn lá thư bày tỏ tình cảm của người nghe khắp mọi miền đất nước...

Phan Khải

Bình luận (0)