Khúc hát Thương binh - Văn Dung

(Nữ thương binh 1/4 Trần Thị Hồng)

Như loài xương rồng gai góc và kiêu hãnh trong gió cát sa mạc, những người thương binh dẫu mang trên mình vết tích chiến tranh không gì bù đắp nổi, họ vẫn đang sống, khao khát và không ngừng "chiến đấu"- cuộc đấu tranh lặng thầm, chống chọi lại bệnh tật và nỗi đau thể xác, chiến đấu với chính mình tìm lại giấc mơ hạnh phúc thời son trẻ… Chúng tôi đã vinh dự tiếp xúc với gia đình thương binh 1/4 TrầnThị Hồng và Hoàng Văn Uyên, tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh Thuận Thành, để sẻ chia với bao nỗi niềm một thời chiến tranh và để khâm phục trước tình yêu của họ… Kỳ duyên trong đau thương, mất mát Năm 1965, khi các phong trào thanh niên "Năm xung phong", "Nơi đâu chiến trường cần thanh niên có mặt, nơi đâu có giặc thanh niên xuất quân"... phát triển sục sôi, người con gái Trần Thị Hồng quê ở xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh vừa tròn đôi mươi đã hăng hái làm đơn tình nguyện đi thanh niên xung phong khóa đầu. Chị đã lên đường làm nhiệm vụ đúng với tinh thần "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai…" trong sự ủng hộ, tiễn đưa lưu luyến của mẹ cha. Chị bảo, hồi đó người ta chẳng sợ gì cả, chỉ tâm niệm sống thì chiến đấu, chấp nhận cái chết, thậm chí còn có câu "Chết xanh cỏ, sống đỏ ngực".

Thương binh Nguyễn Thị Phong với những công việc thường nhật (Bà Hồng với công việc hàng ngày)

 Tiểu đội của chị Hồng có hơn 10 chiến sỹ, đa số là người Hà Tĩnh, tuổi từ 17 đến ngoài 20, tất cả ăn ở trong núi. Bữa ăn đa số là cơm muối và món ca la thầu (su hào muối do Trung Quốc viện trợ), gọi là "ăn" nhưng thực chất chỉ để lấp đầy dạ dày có sức làm việc, thi thoảng may mắn có "đặc sản" canh rau tàu bay, hoa chuối chị em gặp hái trong rừng. Hồi đó, giặc Mỹ tăng cường bắn phá, suốt ngày đêm không lúc nào ngớt tiếng bom đạn, đất đá bị cày lên, xới lại nhiều lần, hố bom chồng lên hố bom. Ban đêm, chúng thả pháo sáng, ném bom bi, bắn đạn rốc-két nhằm tiêu diệt lực lượng ứng cứu đường của ta, thậm chí ác độc rải hóa chất khắp các dòng sông, con suối dọc đường Trường Sơn gây hậu quả thảm khốc… Cơm vắt rau rừng, vất vả, thiếu thốn mọi bề khiến nữ thanh niên gầy và già đi trông thấy. Ở Trường Sơn hơn 1 năm chị bị sốt rét ác tính phải tiêm ký ninh triền miên, tóc rụng từng mảng đến trắng đầu, chị em trong đội cũng không tránh khỏi.

Chiến dịch lịch sử Mậu Thân năm 1968, sau nhiều tháng ngày vật lộn với quân thù, mặc cho địch bắn phá, chị Hồng cùng đồng đội vẫn vững vàng tay cuốc, tay xẻng, vừa mở đường Trường Sơn, vừa tải đạn, chăm sóc thương binh, kiên cường bảo vệ con đường huyết mạch. Một ngày máy bay địch quần thảo dữ dội, trong lúc cả tiểu đội đang sửa đường thì bị B52  địch dội bom, nhiều đồng chí đã ngã xuống, chị Hồng bị thương nặng ngất đi không biết gì nữa. Lúc tỉnh dậy, thấy mình đang nằm tại Bệnh viện 14 thuộc Binh trạm 12 trong rừng Trường Sơn, y tá nói chị đã hôn mê nhiều ngày, nhìn xuống hai tay thì đã không còn nữa… Chị Hồng không diễn tả nổi cảm xúc và tâm trạng của mình khi ấy, nghĩ đời mình thế là hết, mọi thứ đã chấm dứt từ đây, cả khao khát được cống hiến, chiến đấu, cả giấc mơ tình yêu, hạnh phúc với một mái nhà và những đứa con… Rồi chị được chuyển sang Bệnh viện Quân khu 4, ra Bắc tại Bệnh viện 203 và lại bắt đầu tập những bước đi, mất thăng bằng do hai tay không còn, chân yếu sau nhiều ngày tê liệt, việc tưởng như đơn giản mà không dễ chút nào. Nhiều tháng sau đó, chị Hồng không thể chủ động trong sinh hoạt, mọi việc từ ăn uống, tắm rửa, vệ sinh… đều phụ thuộc vào sự chăm sóc của y tá. Cuộc sống hạnh phúc của thương binh ở Thuận Thành, Bắc Ninh

Trần Thị Hồng-Hoàng Văn Uyên

Và chính lúc tuyệt vọng nhất, chị Hồng gặp lại "mối tình" tưởng như chỉ là thoáng qua của mình - anh Hoàng Văn Uyên, người đã giúp chị thắp lên ngọn lửa tình yêu và hạnh phúc… Kể đến đây, nước mắt chị tuôn rơi. Bằng giọng nói nhẹ nhàng, điềm tĩnh, anh Hoàng Văn Uyên tiếp lời vợ:  Tôi sinh ra tại xã Kỳ Phương, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, miền quê giáp tỉnh Quảng Bình gió Lào, cát trắng… Ngày 28-3-1962, tôi lên đường nhập ngũ, về Binh trạm 12 đóng ở miền Tây Quảng Bình với nhiệm vụ tham mưu cầu đường. Ngày tháng đó, tôi gắn bó với những cung đường Trường Sơn từ đèo Mụ Giạ đến dốc Đá Đẽo dài hơn 100km. Hôm nào tôi cũng thực hiện nhiệm vụ đi quan sát đường để điều phối các lực lượng sửa chữa, đảm bảo cho giao thông thông suốt ra tiền tuyến". Ở đó, trong những khoảng thời gian không hẹn, bất kể ngày, đêm, bom đạn quân thù thường trực dội xuống nhằm hủy diệt tất cả. Từng cung đường, tấc đất, rừng cây, ngọn cỏ đều đậm dấu ấn khốc liệt của chiến tranh. Vượt lên tất cả, con người Việt Nam vẫn vững vàng ý chí hướng về ngày chiến thắng. Họ vẫn lạc quan, tin tưởng để sống, chiến đấu và yêu thương. Cũng ở đó, trong những năm tháng ác liệt ấy, Hoàng Văn Uyên đã gặp cô thanh niên xung phong Trần Thị Hồng. "Lần đó đi kiểm tra đường, tôi ghé thăm đơn vị thanh niên xung phong đang đào công sự. Trò chuyện với chị em rồi thầm có cảm tình với Hồng. Từ đó lấy cớ là đồng hương Hà Tĩnh, tôi thường qua thăm Hồng. Rồi cảm mến, thầm thương và tình yêu cũng dần nảy nở. Gọi là tình yêu nhưng mỗi lần gặp nhau cũng chỉ vài câu thăm hỏi, một ánh mắt trao vội… thời chiến mà!". Trong thời gian nằm điều trị tại Bệnh viện 14, Binh trạm 12, trước khi Hồng được điều chuyển ra Bắc, anh Uyên đã đến thăm cô: "Giờ phút chia tay, Hồng vẫn nằm trên cáng. Tôi có khoảng 30 phút để sẻ chia, động viên, an ủi Hồng. Tôi đã nói "Em cứ yên tâm, thế nào anh cũng đưa em về thăm mẹ!"… Hồng chỉ rưng rưng nước mắt, nghẹn ngào không nói nên lời". Sau cuộc chia tay ấy, anh Uyên tiếp tục chiến đấu ở Trường Sơn, còn chị Hồng được chuyển ra Bắc về Trại Điều dưỡng Thương binh nặng 1. Chiến tranh ngày càng ác liệt. Người ngoài mặt trận không biết sống chết ra sao. Người bị thương nặng luôn coi lời hứa của chàng trai là sự động viên. Câu chuyện tình yêu ấy tưởng như đi vào quên lãng.

(Bà Hồng ông Uyên giờ đã có cháu nội)

Gần 10 năm thử  thách chia ly và hạnh phúc sum họp Tháng 5-1969, có một người con trai, cũng là thương binh nhẹ tìm đến Trại Điều dưỡng Thương binh nặng 1 (nay là Trung tâm Điều dưỡng Thương binh huyện Thuận Thành- PV)  trình bày với lãnh đạo Trung tâm xin gặp Hồng. Họ đã sững sờ khi nhìn nhau, cả hai đều khóc, người con gái bối rối quay đi giấu dòng nước mắt lăn vội… Và chàng trai kín đáo lấy khăn thấm lệ cho cô. Người con trai ấy chính là  Hoàng Văn Uyên. Anh Uyên đã ra Bắc tìm gặp chị Hồng để thực hiện lời hứa hôm nào. Anh Uyên nhớ lại: "Lấy được Hồng không phải dễ đâu. Khi đưa ra đề nghị "Anh ra đưa em về gặp mẹ!", Hồng đã nhất quyết từ chối: "Em nay đã mất cả 2 tay rồi… không làm gì được. Anh đừng nghĩ đến em nữa…". Thuyết phục rất nhiều, rồi Hồng cũng cảm động trước tấm lòng của tôi mà cùng về quê. Mẹ của Hồng dù thương con, mong muốn cho con có gia đình nhưng cũng phân tích mọi điều và thẳng thắn khuyên tôi hãy quên Hồng đi và tìm cho mình một hạnh phúc mới. Tôi đã kiên tâm khẳng định sẽ cùng Hồng đi hết chặng đường đời dù khó khăn đến đâu. Lúc định ngày cưới thì chính quyền xã Hồng lại không cho phép vì thiếu giấy xác nhận của đơn vị. Thế là lại lặn lội về đơn vị… Để khỏi có thêm khó khăn, tôi đã giấu gia đình tổ chức lễ cưới tại quê Hồng".

(Bà Hồng và ông Uyênở tuổi 70)

Ngay sau lễ cưới, anh chị lại chia tay mỗi người một ngả. Anh trở về với những cung đường Trường Sơn, chị ra Bắc tiếp tục điều dưỡng. Họ lại được đặt vào thử thách mới không dễ gì vượt qua. Và cũng không ai ngờ lần chia tay ấy phải đến gần 10 năm sau mới gặp mặt. Thời chiến liên lạc khó khăn nên có khi phải 2, 3 tháng mới nhận được một lá thư. Đến năm 1977, anh Uyên ra Bắc về công tác tại Trung tâm Điều dưỡng Thương binh Thuận Thành. Anh chị lúc này mới được ở gần nhau. Hạnh phúc đã nở hoa khi 2 cậu con trai Hoàng Tiến Nhân và Hoàng Tiến Đức lần lượt ra đời. Niềm vui nhưng cũng là thử thách mới với anh chị. Chị không còn đôi tay nên hầu như mọi việc đặt cả lên vai người chồng, việc gia đình từ cơm nước, nấu nướng, chăm sóc khi vợ đẻ một tay anh Uyên lo liệu. Chị chưa kịp buồn hay tủi thân thì anh đã thấu hiểu. Lương thấp nên kinh tế gia đình hết sức khó khăn, 2 vợ chồng phải đi buôn chè và thuốc lào để có thêm thu nhập . Anh Uyên vui vẻ nhắc lại kỷ niệm của một thời: "Hàng đằng trước, vợ ngồi đằng sau cứ thế mà đạp xe đi chợ. Bữa ăn gia đình chủ yếu là khoai độn cơm. Thương con nên hai vợ chồng ăn khoai để các con ăn cơm cho đỡ nóng bụng. Khó khăn vất vả nhưng vợ chồng luôn tâm niệm phải nuôi dạy hai con trưởng thành. Nay cả 2 đứa đều đã là Thạc sỹ cả rồi. Nhiều khi nghĩ lại cũng không ngờ mình có được như ngày hôm nay". Đến giờ, khi người nữ thương binh đã bước qua tuổi 68, vẫn nghẹn ngào khi nhắc đến chồng mình: "Nếu phải nói một tiếng cảm ơn trong đời thì không ai khác chính là anh ấy. Tình yêu của anh đã tái sinh tôi lần thứ 2…".

(Mặc dù đôi tay không lành lặn nhưng chị vẫn muốn lao động,

chia sẻ nhọc nhằn với chồng con.)

Động lực nào đã đưa anh Hoàng Văn Uyên đi đến quyết định cao cả là gắn bó với nữ thương binh đã mất cả 2 tay. Hoàng Tiến Nhân, con trai lớn của anh Uyên tâm sự: "Nay tôi đã có gia đình riêng nên càng cảm nhận sâu sắc hơn sự vất vả của bố, mẹ. Quyết định của bố tôi ngày xưa phải xuất phát từ nghị lực phi thường của một người rất coi trọng lời hứa, tình cảm và tình thương. Nếu đặt trong hoàn cảnh ấy, tôi không thể quyết định và làm được như vậy!". 

Còn anh Uyên đã lý giải cho quyết định của mình một cách đơn giản: "Chiến tranh đã gây ra quá nhiều đau thương, mất mát rồi! Mình cũng trong cuộc chiến ấy nên phải làm những gì bớt đi sự mất mát, đau thương". Đó là một lý giải đơn giản nhưng để thực hiện được chắc chẳng dễ dàng gì. Còn cá nhân người viết thì nghĩ rằng: Có lẽ trước khi yêu một con người, Hoàng Văn Uyên đã yêu một lý tưởng. Lý tưởng của người Việt Nam trọng tình, vẹn nghĩa. Từ lý tưởng ấy đã vút lên bài ca về cuộc sống và tình yêu.   Xuân Lĩnh

Bình luận (0)