Khen ai khéo kết cái đèn cù - Đỗ Nhuận

Kết quả hình ảnh cho Đèn kéo quân

Đèn kéo quân (Đèn cù)

Từ cảm hứng “tít mù vòng quanh” của cây đèn kéo quân với những voi giấy, ngựa giấy, dân ca Việt Nam vút lên giai điệu trong sáng - bài “Đèn cù”. Đèn cù cũng là tên gọi khác của đèn kéo quân.

Bài dân ca rất ít lời, chỉ vẻn vẹn hai cặp thơ lục bát. Cái độc đáo là khi hát cứ lặp đi lặp lại, như đặc tả về sự chuyển động cơ học của đèn:

          

“Khen ai khéo kết (ối a cái) đèn cù.

Voi giấy (ối a) ngựa giấy,

tít mù (nó lại) vòng quanh.

Bao giờ em bén (cái) duyên anh.

Voi giấy (ối a) ngựa giấy vòng quanh.

(ối a cái) tít mù (mà).

Khen ai, khéo kết (ối ai cái) đèn cù…”.

Sở dĩ có cái sự vòng quanh là bởi cây đèn làm theo hình ống. Nến ở bên trong trục đèn khi đốt chong chóng sẽ tự quay tròn. Tương truyền, xưa vào dịp Trung thu, nhà vua mở hội làm đèn. Một hôm Lục Đức - chàng nông dân nghèo hiếu thảo - mơ thấy Thái Thượng Lão Quân dạy cách làm đèn. Tỉnh giấc, chàng cùng mẹ chọn thân trúc trắng cùng giấy màu để làm.

Khi xong đèn thì rằm tháng Tám cũng vừa đến, hai mẹ con đem dâng vua. Thật kỳ lạ, ngọn lửa trong đèn sáng làm chong chóng quay hiện 6 sắc màu rực rỡ với hình đoàn quan, quân cùng voi, ngựa bằng giấy nối đuôi nhau vòng quanh. Vì thế đèn có tên là kéo quân. Ở góc độ khác, dân gian gọi đèn cù, vì cấu tạo vòng quanh lặp đi lặp lại.

Hình ảnh có liên quan

Trời… trời khuya sáng tỏ (í phú lý) trăng… trăng rằm. Riêng mình (là) mình tôi đơn độc Tình cốp tình tình tình cốp. Đêm rằm một mình tôi đơn độc Thật là công cốc, một mình thui thủi Cô em chẳng rõ tôi chờ ngoài ngõ Trông rõ thông thống mà chẳng thấy nàng (a là) nàng Thấy cái đèn sáng tỏ giữa sân (ấy mấy) nàng ơi…

Hậu câu chuyện về cây đèn: Vua vui mừng truyền cho dân chúng tới xem. Từ đó cứ đến Trung thu, nhân dân lại làm đèn, vừa điểm tô sắc màu vừa nhắc nhở về lòng hiếu thảo với mẹ cha. Sau này, những hình ảnh, họa tiết ngày càng được các nghệ nhân sáng tạo thêm. Hình ảnh đoàn quan, quân, voi, ngựa ít đi và câu chuyện nguồn gốc, ý nghĩa cây đèn ít người nhớ tới.

Chuyện về đèn cù đã tỏ, cũng khen ai khéo sáng tạo bài “Đèn cù”. Nhưng, theo lời kể của nhạc sĩ - nhà nghiên cứu Thao Giang, dù bài dân ca đã rất được yêu thích thì vẫn có một người chưa hài lòng. Vị này không chê nhưng thấy thiếu một cái gì đó.Một ngày đẹp trời, vị này đã gia công thêm phần đầu:

Kết quả hình ảnh cho Đèn kéo quân

Khéo kết (ối a) cái đèn cù, đèn cù, đèn cù (Là) khen ai khéo kết (ối a) cái đèn cù Voi giấy (ối a) ngựa giấy (ôi) tít mù (ối) lại vùng quanh (ôi) Bao giờ em bén (cái) duyên (a) anh Voi giấy (ối a) ngựa giấy (ối) vùng quanh (ối a) cái tít mù. (Mà) khen ai khéo kết (ối a) cái đèn cù Đèn cù, đèn cù là…

Phần mới lắp ráp này khai thác từ nhạc chèo, rất tương đồng với phần cũ. Hơn nữa nâng thêm ý nghĩa ban đầu của bài hát, vốn đơn thuần tả sự quay tròn của đèn, nay thành tâm tình đôi lứa. Chàng trai như ghen với đèn khi cô gái chỉ say sưa với đèn mà quên chàng thấp thỏm, mong ngóng. Người sáng tạo thêm, để bài “Đèn cù” hoàn thiện không phải ai xa lạ, chính là nhạc sĩ Đỗ Nhuận.

Đèn kéo quân là một đồ chơi hết sức gần gũi của trẻ thơ mỗi dịp Thu sang và nhất là trong dịp Tết thiếu nhi. Cây đèn mô phỏng một đoàn người hoặc vật nối tiếp chạy vòng tròn khi được đốt sáng, và bắt nguồn từ trò chơi đánh trận giả trong đó các bé chia làm nhiều đội, mỗi đội cử một người làm vua hoặc tướng, những người khác làm quan và quân lính cùng nhau đi thực hiện việc cứu người, đánh giặc hay tìm hiểu đời sống dân dã.

Đất nước ta từ xưa đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến, và qua cây đèn kéo quân, người lớn muốn để trẻ em nhớ về lịch sử oai hùng của dân tộc. Buổi đầu hình ảnh trên cây đèn nói về việc nghĩa song dần dần đã đổi sang đề tài khác như thêm ông quan trạng vinh quy bái tổ, cảnh tứ linh nhảy múa, bác nông dân làm ruộng, mục đồng chăn trâu

Kết quả hình ảnh cho Đèn kéo quân

Đèn… đèn ai sáng tỏ (í phú lý) đêm… đêm rằm Riêng mình (là) mình tôi đơn độc Tình cốp tình tình tình cốp. Sao đèn (là) đèn không đơn độc Đèn được săn sóc, được nàng an ủi Tôi đây chẳng có, âm thầm vò võ Tôi gõ tiêu cúng (a) miệng niệm kinh Kiều (a là) Kiều Ơi cô Kiều thấu tỏ cho chăng (ấy mấy) đèn ơi…

Sử sách ghi lại, đèn kéo quân đã có từ đời Nguyên, cùng thời những cây đèn lồng đỏ Tết Nguyên Tiêu. Còn truyện dân gian thì kể rằng, một năm sắp đến Trung Thu, đức vua cùng quần thần ra ngoài hoàng thành ngắm cảnh, nhân dân làm rất nhiều đèn lồng để soi sáng đường vua qua.

Tại các phố phường được lịch đón tiếp vua, ai cũng khẩn trương làm một cây đèn, song không được giống nhau. Ở một nhà nghèo nọ, có hai mẹ con chàng trai tên là Lục Đức (sáu điều tốt), ăn ở hiền lành, tốt bụng. Một đêm, Lục Đức mơ gặp Thái Thượng Hoàng mách cho cách làm một cây đèn.

Đêm Trung Thu, cây đèn của anh được dâng vua. Nghe anh kể lại ý nghĩa của cây đèn miêu tả những cảnh sinh hoạt dân gian sung túc, cảm động đức độ, đức vua đã cho truyền bá cây đèn rộng rãi, và gọi là đèn kéo quân vì có những hình rối vui tươi chạy lòng vòng. Ngày xưa, thú chơi đèn kéo quân diễn ra trong tất cả các dịp lễ tết và Trung Thu, còn hiện nay hầu như chỉ còn thấy ở Trung Thu.

Có nhiều câu chuyện vui thiếu nhi về đèn kéo quân, chẳng hạn: Thời vua Gia Long triều Nguyễn, cậu bé Nguyễn Quý Tân (1814 - 1858) thông minh đã từng dằn mặt viên quan to nhất tỉnh Hải Dương. Đêm Rằm tháng Tám, tại đường cái của tỉnh Hải Dương, Tân đang theo chúng bạn rước đèn trông giăng (trăng) thì nhà quan đi qua, mấy tên sai nha gặp ai cũng la lối, đánh mắng.

Kết quả hình ảnh cho Múa sư tử

“Thùng thình thùng thình trống rộn ràng ngoài đình Có con sư tử vui múa quanh vòng quanh Trung thu liên hoan trăng sáng ngập đường làng Dưới ánh trăng vàng em cất tiếng hát vang”

 Bất bình, em đứng lì giữa đường không tránh, và đợi lính tới thì thản nhiên xưng là học trò vì mải vui không nghênh tiếp kiệu quan. Viên quan thấy cậu khôi ngô nói năng chững chạc, liền bảo: Nếu đúng là học trò thì phải làm một bài thơ nói về buổi tối nay và cây đèn kéo quân, nếu không sẽ bị đánh đòn. Nguyễn Quý Tân bèn ứng khẩu:

Một lũ ăn mày một lũ quan Quanh đi quẩn lại vẫn một đoàn Đến khi dầu hết đèn thôi cháy Chẳng thấy ăn mày chẳng thấy quan.

Bài thơ cố ý chế nhạo lũ quan quân lố nhố kênh kiệu. Bị bẽ mặt, họ lủi mất

Làm đèn kéo quân khá phức tạp. Đầu tiên, cần một bộ khung đèn thật chắc bằng tre cao chừng 60cm, đường kính 50cm. Các mặt dán giấy trắng tinh hoặc dán giấy mầu. Ở bốn góc có thể vẽ cảnh núi sông, cây cỏ, mái đình hoặc thành trì để làm nền cho các hình rối. Chân đèn cũng có thể đính tua chỉ ngũ sắc, hoa giấy, hạt cườm cho thêm đẹp.

Bên trong đèn đặt một đĩa dầu lạc hoặc nến, và xung quanh đĩa dầu lắp một trục chuyền (một cái chong chóng) dán các hình người và vật sau này quay quanh đèn. Do trục trơn, các hình nhẹ nên khi đốt đèn, lửa sẽ làm nóng không khí tạo thành luồng gió khiến trục quay kéo theo các hình chuyển động.

Bánh Trung Thu

Khi đèn sáng, giấy trắng sẽ như một tấm giương soi rọi các hình bên trong. Ví thử trên trục quay gắn một con ngựa mầu đỏ thì trên mặt giấy trắng sẽ hiện hình một con ngựa đỏ; một bà quan mặc xiêm áo xanh, đỏ, tím, vàng cũng hiện lên xanh, đỏ, tím, vàng, thậm chí các chi tiết cũng rõ rệt từ mắt mũi, tóc tai, cúc áo, đồ vật kèm theo… Với đèn dán giấy mầu, các hình có mầu nhạt hơn hoặc đen thẫm. Có thể xem một cây đèn kéo quân là một màn diễn rối bóng tự động không cần người điều khiển.

  Nguồn:(Nguyễn Quang Long)

Nguồn: (Tết Trung Thu của người Việt)

Bình luận (0)