Aria cô Sao - Đỗ Nhuận.

Đỗ Nhuận bắt đầu sáng tác "Cô Sao" từ khoảng năm 1960 - trong thời kỳ ông được cử đi tu nghiệp tại nhạc viện Tchaikovsky, Liên Xô. 3 năm sau vở opera đầu tiên của Việt Nam được hoàn thành và công diễn lần đầu tại Nhà Hát Lớn Hà Nội năm 1965 với những nghệ sỹ của NHGHVK gồm: Ngọc Dậu (A Sao-soprano), Quý Dương (Hà - Baritone), Tâm Trừng (mụ Ba - contralto) , Trung Kiên (Đen - tenor),... Năm 1976, phiên bản chỉnh sửa rút gọn của Cô Sao lần đầu tiên được dàn dựng, đem lại tên tuổi cho ngôi sao của nhà hát NVK thời ấy là soprano Thuý Hà. Từ đó đến nay, Cô sao và các trích đoạn nổi bật trong vở diễn vẫn thỉnh thoảng được biểu diễn và dàn dựng (không chính thức) tại Việt Nam.

Năm 2012, vở diễn lại quay lại với khán giả Hà Nội trong với 1 dàn solists trẻ tài năng nhất của nhà hát NVK gồm Thăng Long, Mạnh Dũng, Vành Khuyên, Mạnh Đức,... dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Tetsuji Honna và dàn nhạc GHVN. Đây là phiên bản được chỉnh sửa và hoàn thiện về phần phối khí của NS Đỗ Hồng Quân, con trai Đỗ Nhuận trên cơ sở những bản tổng phổ piano (piano-score) còn lại. 

Cô Sao gồm 3 màn, với nội dung kể về mối tình cô gái dân tộc Thái A Sao và Hà - 1 người tù nhân chính trị Việt Minh xen lẫn trong cuộc đấu tranh chống lại người Pháp, Nhật và bọn quan lại tay sai, của đồng bào và chiến sỹ vùng Tây Bắc. Vở Opera tuy còn nhiều điều chưa hoàn thiện trong phần phối khí và libretto (lời hát), tuy nhiên cũng có không ít trích đoạn âm nhạc khá cuốn hút với giai điệu đẹp và có sự khai thác khá độc đáo từ âm nhạc dân tộc. Có thể kể đến như aria A Sao: "em nghĩ sao không ra", "Mãi sao chẳng gặp nhau"; duet "Tự do" Sao-Hà, duet Vân - A Sao: "Trông lên trời thấy sao Tăng Lú", trio Mụ Ba, Hung, Đen: "ai hay cây quế thơm tho giữa rừng".

Cô Sao nay đã tròn 50 tuổi nếu tính từ lúc ra đời trên tổng phổ năm 1962 - tuổi đã cứng so với một đời người, nhưng vẫn là quá trẻ trong con mắt lịch sử. 
Ba lần Cô Sao xuất hiện trên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội vào các thập kỉ khác nhau đều được coi là sự kiện đáng ghi nhớ trong đời sống âm nhạc Thủ đô. 
Lần đầu tiên ra mắt năm 1965 với vai trò mở màn cho nhạc kịch Việt NamCô Sao đã để lại một mốc son cho nền âm nhạc nước nhà. Khi ấy tất cả đều trẻ trung tuổi đời cũng như tuổi nghề, từ tác giả Đỗ Nhuận đến các diễn viên hát, múa và dàn nhạc giao hưởng.
Năm 1976 trong niềm vui Bắc Nam sum họp một nhà, Cô Sao với tên gọi A Sao lại có mặt dưới hình thức nhẹ nhàng và tươi mới, phù hợp với thời điểm đó.
Cuối năm 2012, một cuộc phục dựng công phu từ những trang tổng phổ chép tay không toàn vẹn đã đưa Cô Sao trở lại nhân kỉ niệm 55 năm thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam, như lời tri ân của thế hệ con cháu dành cho tác giả Đỗ Nhuận và thế hệ nhạc sĩ - nghệ sĩ đầu đàn. Một lần nữa chúng ta nghe lại không chỉ một câu chuyện đời lồng trong vận nước, mà còn nhìn lại những bước đi đầu tiên của một thời hồ hởi niềm tin gây dựng nền nhạc mới Việt Nam.

Ý tưởng sáng tác opéra đã nung nấu trong nhạc sĩ Đỗ Nhuận ngay từ những năm 50, thời ấy ông đã viết vài ca kịch ngắn:Cả nhà thi đua, Sóng cả không ngã tay chèo, Anh Păn về bản, Hòn đá. Đó là những thể nghiệm chuẩn bị cho vở nhạc kịch đầu tiên ra đời. 
Cô Sao chẳng những tổng hợp đặc điểm sáng tác của nhạc sĩ Đỗ Nhuận trong cả hai lĩnh vực: thanh nhạc và khí nhạc, mà còn cộng hưởng cả ba tính cách âm nhạc khác nhau ở ông - các tuyến nhạc: trữ tình lãng mạn, trầm hùng khỏe khoắn và hài hước dí dỏm. Ba tính cách âm nhạc được giữ lại gần như trọn vẹn cho dù mỗi lần dàn dựng đều có nhiều sửa đổi về kịch bản và phối khí. 

May mắn được chứng kiến cả ba lần ra mắt của Cô Sao, tôi lại càng phân vân không biết ở đây nên dẫn giải phần âm nhạc theo phiên bản nào, đi sâu vào tình tiết cuộc đời chìm nổi của cô gái Thái ở kịch bản gốc, hay chọn câu chuyện rút gọn tuyến kịch cũng như biên chế dàn nhạc ở phiên bản năm 1976, hoặc bức tranh đồ sộ và mang tính khát quát hơn về vai trò âm nhạc cũng như sự kiện lịch sử của bản phục dựng năm 2012. Chi bằng cứ đứng từ góc độ âm nhạc để chọn cách dẫn giải theo ba tuyến nhạc chính nói trên.

Câu hát của cô gái bị bủa vây bởi lời nguyền “là ma” chan chứa nỗi niềm khao khát tự do, khao khát được yêu được sống làm người - một chủ đề tư tưởng được gợi ý từ câu thơ của Cụ Hồ:

Trên đời ngàn vạn điều cay đắng
Cay đắng chi bằng mất tự do.

Từ lâu đã trở thành tác phẩm độc lập, aria đầu tiên của cô Sao thường được trình diễn trên sân khấu âm nhạc chuyên nghiệp trong và ngoài nước. Còn nhớ trong cuộc thi quốc tế mang tên Tchaikovsky tại Moskva năm 1982, giai điệu “Rừng núi muôn trùng” qua giọng hát của nghệ sĩ Lê Dung đã khiến sinh viên Việt Nam chúng tôi rưng rưng tự hào như đứng trước màu cờ sắc áo.
Dịu dàng, đầy khát vọng, mộc mạc trong âm điệu ngũ cung, chủ đề “tự do” đi theo nhân vật Sao xuyên suốt vở kịch, khi xuất hiện ở dàn nhạc, khi cất lên ở giọng hát của cô Sao trong các khúc song ca tam ca và hợp xướng. Âm hình chủ đạo này gần như luôn được giữ nguyên dạng, chỉ “dịch giọng” sang điệu khác và thay đổi lời ca. 

Một trong những trang tổng phổ mang tính học thuật nhất là cảnh diễn tả tâm trạng cô Sao với thủ pháp phức điệu hai chủ đề tương phản: chủ đề 1 - nội tâm bất an, chủ đề 2 - tiếng chim hót ở dàn nhạc tượng trưng cho tự do. Có thể lí giải chủ đề 1 đã kết hợp các điệu thức năm âm khác nhau, không đơn giản nối tiếp nhau, mà lồng quện vào nhau.

Hình tượng một nàng Sao u buồn, đơn côi được tô đậm thêm ở các tiết mục của tốp nữ - những cô gái Thái cùng chung số phận “cánh bèo trôi”. Đó là khúc hát của Sao và đội xòe, não nề như đưa đám trên âm sắc đàn tính ở cuối màn I và day dứt xót xa hơn khi lại vang lên ở màn II

Gắn với tuyến trữ tình của Sao còn có các tiết mục múa và hợp xướng nữ hình thành trên giai điệu dân ca dân vũ Thái. ĐiệuXòe hoa được giữ nguyên dạng trong bài ca ngắm sao: “Kìa ngôi sáng sao, sao ơi xuống cùng ta chơi” Bài hát đêm sao mở rộng cường độ và nối tiếp sang điệu Xòe Thái rộn ràng trên âm sắc khèn.

Tổ hợp các điệu dân ca miền núi còn có thêm điệu Inh lả ơi trong cảnh đất trời Tây Bắc hồi sinh cuối màn III. Lúc này tuyến nhạc trữ tình của cô Sao được nhân lên thành sức mạnh cộng đồng. Cảnh hội hè tưng bừng là cái “kết có hậu” cho tuyến nhạc thứ nhất, hứa hẹn đoạn đời mới tràn đầy niềm tin trong câu chuyện đời của cô Sao.
Tuyến thứ hai với âm điệu trầm hùng, diễn tả hình tượng người tù chính trị mà đại diện là Hà - người yêu của Sao. Có thể coi nguyên mẫu nhân vật Hà chính là tác giả và cảnh tù đày là kí ức của ông về những tháng năm “Sơn La âm u núi khuất trong sương mù”. 

Tựa như sự chuyển biến ngôn ngữ âm nhạc trong ca khúc của Đỗ Nhuận (người đã khởi đầu bằng những bài ca thời tiền khởi nghĩa với màu sắc chủ đạo là điệu thứ buồn, rồi khẳng định sự nghiệp âm nhạc của mình qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ với các ca khúc chắc khỏe, tự tin và dân dã trong âm điệu ngũ cung), ở đây cũng có sự chuyển biến bắt đầu từ tiếng hát ai oán của đoàn tù đói rách, của dân nghèo trọn kiếp đọa đầy, nộp tô đóng thuế, đi lính đi phu…, và kết thúc bằng cảnh dân nghèo vùng lên “như cánh buồm căng gió”. 
Nếu tuyến thứ nhất chủ yếu dựa trên chất liệu nhạc dân gian Tây Bắc - chuyển từ dịu dàng u buồn tới tươi sáng rộn ràng tiết tấu dân vũ, thì tuyến thứ hai gần với âm điệu dân ca người Kinh, được chuyển biến từ những nét nhạc gợi nhớ bài hát yêu nước thời đầu tân nhạc, tới hành khúc cách mạng mà cao trào là Cùng nhau đi hồng binh. Hai tuyến nhạc ban đầu khác nhau về tính cách tiến dần lại gần nhau, và cuối cùng như hai khối dân với quân hòa chung vào nhau trong tiếng ca “mùa thu tháng tám bóng cờ lên, bên nhau niềm tin chiến thắng”.

Những sáng tạo trong lĩnh vực nhạc kịch của Đỗ Nhuận đã ghi thêm dấu ấn cho sự phát triển của nền nhạc mới chuyên nghiệp Việt Nam. Đây là nơi khẳng định rõ hơn quan điểm nghệ thuật của ông, như ông từng bộc bạch bằng hình ảnh so sánh nôm na: 
“Tôi viết nhạc kịch không phải như công việc làm lại cái đình, cái chùa, hoặc bắt chước một vài đường nét cong của mái đình, mái chùa; càng không phải là việc làm cái nhà thờ... mà là công việc thiết kế một nhà văn hóa kiểu mới, trên miếng đất của làng xóm mới, theo kiểu kiến trúc mới, bằng những vật liệu đất, gạch, ngói, gỗ... của Việt Nam, nhưng có tham khảo kĩ thuật của các nước tiên tiến, như cách làm xi măng cốt sắt, cách tiết kiệm cột, gỗ... Nó là cái nhà mới, hợp với sinh hoạt mới và yêu cầu mới của chúng ta” .
(ST)

Bình luận (0)